Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Sử dụng dịch vụ bao thanh toán các vấn đề tài chính kế toán


Bao thanh toán là một công cụ tài chính nhằn huy động vốn và giảm thiểu rủi ro trong quá tình thanh toán cho các doanh nghiệp. Bao thanh toán được sử dụng rộng rãi trên thế giới nhưng vẫn là một khái hiệm tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Nghiên cứu về bao thanh toán dưới các góc độ tài chính và kế toán sẽ giúp các doanh nghiệp có thể sử dụng công cụ này một cách có hiệu quả. Tiếp theo bài “Kế toán quan hệ bao thanh toán” của tác giả Ngô Hà Trung (Tạp chí Kế toán số tháng 12/2006), bài viết này muốn phân tích sâu hơn về dịch vụ bao thanh toán.

Bao thanh toán là gì?

Bao thanh toán (factoring) là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp giữa việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công nợ và thu hồi nợ. Dịch vụ bao thanh toán được thoả thuận giữa đơn vị bao thanh toán (factor) với đơn vị bán hàng. Đơn vị bao thanh toán thường là các ngân hàng, tổ chức tài chính hoặc các công ty bảo hiểm. Đơn vị bao thanh toán sẽ đại diện cho đơn vị bán hàng thực hiện các nghiệp vụ theo dõi công nợ và thu hồi nợ, đồng thời dựa trên tổng số nợ phải thu hồi, đơn vị bao thanh toán sẽ cung cấp vốn cho đơn vị bán hàng trước thời hạn thu hồi nợ. Ngược lại đơn vị bán hàng sẽ phải trả cho đơn vị bao thanh toán một khoản phí dịch vụ cũng như lãi tín dụng cho khoản tiền ứng trước. 

Có hai hình thức bao thanh toán: bao thanh toán có quyền truy đòi (recourse factoring) và bao thanh toán không có quyền truy đòi (non-recourse factoring). Bao thanh toán có quyền truy đòi là hình thức bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho đơn vị bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ. Nói cách khác, đơn vị bán hàng vẫn phải gánh chịu rủi ro về nợ khó đòi. Bao thanh toán không có quyền truy đòi là hình thức bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán không có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho đơn vị bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ. Nói cách khác, đơn vị bán hàng không phải gánh chịu rủi ro về nợ khó đòi mà đơn vị bao thanh toán phải gánh chịu toàn bộ rủi ro đó. 

Dịch vụ Bao thanh toán trên thế giới và ở Việt Nam

Dịch vụ bao thanh toán được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Hiệp hội bao thanh toán quốc tế ( Factoring Chain International - FCI) được thành lập từ năm 1968, có trụ sở ở Amsterdam – Hà Lan. Hiện nay FCI có 216 thành viên ở 62 quốc gia trên thế giới. Dịch vụ bao thanh toán trên thế giới rất sôi động đối với cả hai mảng bao thanh toán nội địa và bao thanh toán quốc tế. Tổng doanh thu của FCI năm 2005 là 1.016.547 triệu euro. 

Ở Việt Nam, ngày 06/9/2004 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN về việc ban hành Qui chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng. Tháng 4/2005 dịch vụ bao thanh toán đã chính thức xuất hiện ở thị trường Việt Nam. Đến nay đã có 11 đơn vị cung cấp dịch vụ này, trong đó 4 ngân hàng Việt Nam bao gồm ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu, ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương là thành viên của FCI. Dịch vụ bao thanh toán ở Việt Nam còn rất khiêm tốn, doanh thu năm 2005 chỉ là 2 triệu euro, một con số vô cùng nhỏ nhoi trong tổng doanh thu của FCI trên toàn thế giới. Hơn nữa doanh thu dịch vụ bao thanh toán ở Việt Nam chỉ là doanh thu bao thanh toán nội địa. Thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều chưa biết đến loại dịch vụ này, trong khi dịch vụ này đặc biệt quan trọng đối với các nhà xuất khẩu. Nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu sẽ có nhiều rủi ro hơn so với kinh doanh nội địa, đặc biệt là vấn đề thanh toán. Nếu các nhà xuất khẩu yêu cầu các nhà nhập khẩu phải mở L/C thì có thể sẽ mất các hợp đồng xuất khẩu đối với các nhà nhập khẩu lớn vì họ sẽ thường chỉ chấp nhận hình thức trả sau. Sử dụng dịch vụ bao thanh toán xuất khẩu sẽ giúp các nhà xuất khẩu thực hiện được các loại hợp đồng này và chuyển nhượng được rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thanh toán khi bán hàng ra nước ngoài.

Thị trường dịch vụ bao thanh toán ở Việt Nam còn nghèo nàn như vậy là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ngoài các nguyên nhân khách quan là dịch vụ bao thanh toán còn quá mới mẻ ở Việt Nam nên chưa được các doanh nghiệp biết đến và những khó khăn gặp phải khi giao dịch với đơn vị bao thanh toán, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các doanh nghiệp vẫn chưa hiểu rõ về dịch vụ bao thanh toán. Các doanh nghiệp còn chưa rõ về các lợi ích và chi phí phát sinh khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán, chưa biết cần tìm hiểu và phân tích những thông tin gì trước khi ra quyết định có nên sử dụng dịch vụ này hay không. 

Lợi ích khi sử dụng bao thanh toán

Do đơn vị bao thanh toán cung cấp tiền cho đơn vị bán hàng trước thời hạn thu hồi nợ (có thể lên tới 85% tổng nợ phải thu), đơn vị bán hàng sẽ cải thiện được đáng kể dòng tiền lưu chuyển, từ đó có tác động tích cực đến rất nhiều các vấn đề tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Đơn vị có thể thanh toán cho nhà cung cấp của mình đúng thời hạn hơn và có thể được hưởng các khoản chiết khấu thanh toán từ các nhà cung cấp. Bên cạnh đó, do có đủ tiền để thanh toán cho số hàng mình cần, đơn vị bán hàng có thể duy trì được mức hàng hoá, vật tư dự trữ hợp lý nhất, tránh tình trạng “cháy kho”.

Một ích lợi quan trọng khác mà dịch vụ bao thanh toán mang lại cho các đơn vị bán hàng là nó đem lại nguồn lực tài chính tài trợ cho nhu cầu phát triển của đơn vị. Có rất nhiều trường hợp các doanh nghiệp tăng trưởng quá nhanh nhưng không cân đối được năng lực tài chính, dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán nghiêm trọng, mặc dù các đơn vị này bán được rất nhiều hàng, lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh lớn nhưng không có tiền để quay vòng vốn kinh doanh do bị ứ đọng vốn quá lớn trong nợ phải thu của khách hàng. Dịch vụ bao thanh toán giúp các đơn vị bán chuyển đổi nhanh chóng các khoản nợ phải thu ở khách hàng thành tiền mặt nên các đơn vị bán có thể yên tâm tài trợ vốn cho sự tăng trưởng của mình thông qua việc bán hàng mà không cần đến các nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài. Dịch vụ bao thanh toán giúp các đơn vị bán hàng có được sự kết nối chặt chẽ giữa vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh với khối lượng sản phẩm đầu ra tiêu thụ được. Đơn vị càng tiêu thụ được nhiều hàng thì sẽ được tài trợ càng nhiều vốn để quay vòng hoạt động kinh doanh từ các đơn vi bao thanh toán. Ngược lại, không có dịch vụ bao thanh toán, nếu 
đơn vị bán cần đi vay ngắn hạn ngân hàng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của mình, thì yếu tố quyết định tới mức vốn được vay không phải là mức tiêu thụ đầu ra mà là việc phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn thể hiện trên bảng cân đối kế toán cuối kỳ trước của đơn vị.

Một lý do quan trọng nữa khiến các đơn vị bán hàng nên sử dụng dịch vụ bao thanh toán là các nhà quản lý sẽ không phải dành thời gian và công sức cho các khoản nợ chậm thanh toán. Việc quản lý, theo dõi và thực hiện các thủ tục thu hồi nợ sẽ do đơn vị bao thanh toán đảm nhiệm. Các nhà quản lý sẽ có thêm thời gian dành cho các công việc khác quan trọng hơn và thực sự cần đến trí tuệ của họ. Bên cạnh đó, các đơn vị sử dụng dịch vụ bao thanh toán không những sẽ không phải gánh chịu các chi phí vận hành hệ thống theo dõi tiền hàng bán chịu mà còn được cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp hơn và hiệu quả hơn từ các đơn vị bao thanh toán.

Tuy nhiên, một nhược điểm quan trọng của dịch vụ bao thanh toán là khách hàng sẽ thanh toán trực tiếp cho đơn vị bao thanh toán chứ không phải cho đơn vị bán hàng, nên có thể tạo ra một hình ảnh không tốt về thái độ đối với khách hàng của đơn vị bán hàng. Sử dụng dịch vụ bao thanh toán cũng có thể ngụ ý rằng đơn vị bán hàng đang cần tiền mặt một cách nhanh chóng và do đó có thể đặt dấu hỏi về sự ổn định tài chính của đơn vị bán hàng.


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan trưc tuyến

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Bài giảng: Lập kế hoạch kinh doanh thương mại điện tử



  • Các bước của một kế hoạch kinh doanh TMĐT
  • Xác định mục tiêu kinh doanh TMĐT
  • Đo lường lợi ích và chi phí của kinh doanh TMĐT
  • Kế hoạch triển khai

  1. Mục tiêu là gì? Gắn với mục tiêu kinh doanh chung như thế nào? Các chỉ số mục tiêu cụ thể ra sao?
  2. Đo lường lợi ích và chi phí? Trong các khoảng thời gian?
  3. Kế hoạch triển khai? Danh sách công việc? Nhân sự? Thời gian thực hiện?
Xác định mục tiêu kinh doanh

 Các mục tiêu có thể:
  • Tăng doanh số cho thị trường hiện tại?
  • Mở ra thị trường mới?
  • Phục vụ khách hàng hiện tại tốt hơn?
  • Tìm đối tác mới?
  • Phối hợp và quản lý các đối tác hiện tại hiệu quả hơn?
  • Tuyển nhân viên tốt hơn?
 Quy mô doanh nghiệp? -> Chọn loại ứng dụng TMĐT
 Rủi ro của dự án TMĐT >< Rủi ro không thực hiện TMĐT


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan trưc tuyến

Luận văn Tình hình bao thanh toán tại Việt Nam



Hội nhập vào nền kinh tế thế giới là một trong những động lực chính của cải cách kinh tế ở Việt Nam. Từ việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do Asean đến việc thực hiện Hiệp định thương mại song phương Việt Mỹ và sắp tới đây là việc tham gia vào WTO, quá trình hội nhập đã giúp cho thị trường trở nên cạnh tranh hơn và buộc các doanh nghiệp trong nước phải tăng năng suất và hiệu quả hoạt động. Gia nhập vào WTO đòi hỏi những thay đổi về thể chế, từ việc phải tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp, đến việc mở rộng cạnh tranh trong những lĩnh vực dịch vụ quan trọng như: tài chính ngân hàng hay cải thiện tiêu chuẩn vệ sinh và tăng cường quyền sở hữu trí tuệ.

Từ nay đến năm 2008, ngành tài chính ngân hàng Việt Nam sẽ mở cửa hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Chính vì thế, đa dạng hóa và phát triển sản phẩm mới là một trong những chiến lược để tồn tại và phát triển của bất kỳ ngân hàng nào. Để đạt được mục tiêu đó, các ngân hàng phải nhanh chóng đưa vào áp dụng những sản phẩm tài chính mới đã được phát triển trên thế giới, trong đó có nghiệp vụ bao thanh toán – Factoring. Thực ra bao thanh toán không phải là một nghiệp hoàn toàn mới lạ, những lợi ích mà bao thanh toán đem lại cho thương mại trong phạm vi quốc gia và trên thế giới ngày càng được khẳng định và công nhận rộng rãi. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam dịch vụ này phát triển như thế nào, có bao nhiêu ngân hàng bán sản phẩm này và làm thế nào để bao thanh toán được ứng dụng rộng rãi tại các ngân hàng thương mại.
Quan tâm đến sản phẩm này và mong muốn góp phần nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng nói chung và Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam nói riêng, tôi đã chọn đề tài:” Tình hình thực hiện bao thanh toán tại Việt Nam và một số giải pháp để đưa sản phẩm bao thanh toán vào ứng dụng taị Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

Tải Luận văn: Tình hình thực hiện bao thanh toán tại Việt Nam và một số giải pháp để đưa sản phẩm bao thanh toán vào ứng dụng taị Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan trưc tuyến

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Tài liệu Thị trường ngoại hối



Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi ngoại tệ thông qua quan hệ cung cầu. Việc trao đổi bao gồm việc mua một đồng tiền này và đồng thời bán một đồng tiền khác. Như vậy, các đồng tiền được trao đổi từng cặp với nhau.

Ví dụ: USD/DEM

Ở các nước phát triển các quan hệ cung cầu ngoại hối đều tập trung ở thị trường ngoại hối. Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng, thông qua thị trường liên hàng mọi giao dịch mua bán ngoại hối có thể tiến hành trực tiếp với nhau. Quá trình hình thành thị trường ngoại hối đã hình thành hai hệ thống tổ chức khác nhau. Hệ thống hối đoái Anh - Mỹ và hệ thống hối đoái châu Âu.

Theo hệ thống Anh - Mỹ thì thị trường hối đoái có tính chất biểu tượng, chỉ giao dịch ngoại hối thường xuyên giữa một số ngân hàng và người môi giới qua các phương tiện thông tin hiện đại, tức là loại thị trường không qua quầy. Quan hệ này có thể là trực tiếp, có thể là gián tiếp qua điện thoại. Thị trường ngoại hối thực chất không phải là một địa điểm cụ thể, tức không phải là một văn phòng nơi mọi người ngồi lại với nhau mà đó là một mạng lưới thông tin liên lạc ngân hàng nối mạng điện tử với nhau, liên kết với người môi giới ngoại hối.

Theo hệ thống Châu Âu lục địa (không bao gồm nước Anh) thì thị trường hối đoái có địa điểm giao dịch nhất định và các giao dịch diễn ra hàng ngày, những người mua bán ngoại hối đến đó để giao dịch và ký hợp đồng, nhưng chủ yếu qua điện thoại, fax…

Các thị trường ngoại hối lớn trên thế giới gồm có: London, NewYork, Tokyô, Singapore, HongKong, Frankfurt… với doanh số hàng ngày rất lớn.

Đặc điểm của thị trường ngoại hối

- Thị trường ngoại hối mang tính quốc tế. Thị trường ngoại hối mang tính quốc tế do chênh lệch mức giờ của từng khu vực, thị trường hoạt động gần như liên tục trừ ngày nghĩ truyền thống. Về mặt lý thuyết, từ khi đóng cửa các thị trường Châu Âu, giao dịch có thể được tiến hành ở New York, Tokyo. Phạm vi hoạt động của thị trường ngoại hối của nó không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mở rộng trên phạm vi quốc tế nhằm phục vụ cho các nhu cầu mua bán, giao dịch về ngoại tệ. Sự phát triển của hệ thống thông tin liên lạc tạo điều kiện thực hiện các cuộc đàm thoại thế giới nhanh chóng và tức thời với toàn bộ thị trường hối đoái đang mở cửa, dẫn đến việc quốc tế hoá việc yết giá nói riêng và hoạt động của thị trường ngoại hối nói chung.

 - Thị trường ngoại hối hoạt động liên tục. Thị trường hối đoái hoạt động liên tục suốt ngày đêm 24giờ/ ngày trên các khu vực khác nhau của thế giới.

- Không có địa điểm cụ thể.

- Các giao dịch mua bán được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như: telex, điện thoại, máy vi tính

- Trong bất cứ giao dịch ngoại hối nào thì ít nhất có một đồng tiền đóng vai trò làm
ngoại tệ.

- Ngôn ngữ sử dụng trên thị trường rất ngắn gọn, mang nhiều quy ước nghiệp vụ rất
khó hiểu với người thường.

- Doanh số hoạt động trên thị trường ngoại hối rất lớn.

- Giá cả hàng hoá của thị trường ngoại hối chính là tỷ giá hối đoái được hình thành một cách hợp lý, linh hoạt dựa trên quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Do đó, thị trường ngoại hối rất nhạy cảm không chỉ với các chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm xã hội., mức tăng sản xuất, tỷ lệ lạm phát, sự biến động của lãi suất mà còn chịu sự tác động của các sự kiện chính trị - xã hội như: biểu tình, thiên tai, chiến tranh…

Tải tài liệu: Thị trường ngoại hối

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan trưc tuyến

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Toàn cầu hóa truyền thông đại chúng và những hệ quả của nó


Khẳng định toàn cầu hóa truyền thông đại chúng đã trở thành hiện thực từ giữa thế kỷ XX, trong bài viết này, tác giả không chỉ tập trung làm rõ thực chất của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng được thể hiện ở sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh của các loại hình phương tiện và các chủ thể chi phối, ở sự quy chuẩn hóa công nghệ truyền thông diễn ra trên phạm vi toàn cầu và ở môi trường truyền thông, mà còn chỉ ra và phân tích các yếu tố điều kiện của nó, những hệ quả của nó, cả những hệ quả tích cực lẫn hệ quả tiêu cực.

Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học đã dự báo về khả năng phát triển mạnh mẽ có tính chất bùng nổ và mở rộng quy mô ảnh hưởng toàn thế giới của các phương tiện truyền thông đại chúng, dẫn tới việc thu nhỏ không gian và thời gian thông tin - truyền thông trên phạm vi toàn thế giới, hình thành “làng thông tin toàn cầu”. Những dự báo đó đã dần trở thành hiện thực từ những năm giữa thế kỷ XX khi nhân loại bước vào cuộc cách mạng khoa học – công nghệ lần thứ ba - cuộc cách mạng tin học, với sự ra đời của mạng máy tính Internet, hệ thống cáp quang và hệ thống vệ tinh địa tĩnh.

Thực chất của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng


Thực chất của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng là quá trình phát triển mạnh mẽ, mở rộng
quy mô hoạt động, phạm vi ảnh hưởng ra toàn cầu của các phương tiện truyền thông đại chúng.
Có thể thấy nội dung của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng được phản ánh ở những tiến
trình thực tiễn sau:

- Sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh của các loại hình phương tiện và các chủ thể chi phối truyền thông đại chúng là nội dung đầu tiên của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng.(*) Sự ra đời của báo chí in hiện đại vào cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII đã đánh dấu bước khởi đầu của kỷ nguyên truyền thông đại chúng trong tiến trình phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, trong suốt 3 thế kỷ tồn tại và phát triển của mình (từ thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XIX), báo in đã vận hành một cách chậm chạp với “những bước chân của người đi bộ”. Nó chỉ dần trở nên phổ biến ở Tây Âu – cái nôi ra đời của báo in cùng Bắc Mỹ và một số quốc gia, khu vực có liên hệ mật thiết với các quốc gia phương Tây. Ngay cả ở khu vực này thì báo chí cũng chỉ mới là thứ sản phẩm của văn hóa thành thị, cái thứ mà người dân nông thôn vẫn còn xa lạ. Thậm chí, đến tận cuối thế kỷ XIX, ở một số quốc gia, lãnh thổ trên thế giới, người ta vẫn chưa thấy sự hiện diện của báo in, chưa hình dung ra báo in là gì.

Tuy nhiên, khi nhân loại bước sang thế kỷ XX, tình hình đã khác hẳn. Sự ra đời của phát thanh (radio), truyền hình (television) ở nửa đầu thế kỷ, đặc biệt là sự xuất hiện của máy tính điện tử cá nhân (person computer) và tiếp theo là mạng máy tính toàn cầu (Internet) đã tạo ra bước nhảy vọt có tính chất bùng nổ trong lĩnh vực truyền thông đại chúng. Vào thời điểm hiện nay, các phương tiện truyền thông đại chúng, như báo in, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, các loại băng, đĩa âm thanh, hình ảnh, v.v. đã hiện diện trong đời sống thường nhật, trở thành một nhu cầu sinh hoạt văn hóa không thể thiếu đối với tuyệt đại bộ phận người dân trên toàn hành tinh. Hàng tỷ người ở các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới đang hàng ngày, hàng giờ làm việc, giải trí thông qua và bằng Internet.

Cùng với sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng, các chủ thể truyền thông đại chúng cũng phát triển mạnh mẽ về quy mô, sức mạnh ảnh hưởng. Có thể mô tả lộ trình phát triển quy mô của các chủ thể truyền thông đại chúng trên thế giới như sau:

- Ở thời điểm cuối thế kỷ XIX, thế giới chủ yếu chỉ biết đến những tờ báo độc lập, hoạt động trong phạm vị địa phương, thành phố cụ thể và ở một số ít quốc gia phát triển phương Tây mới có những tờ báo có phạm vi ảnh hưởng trên phạm vi toàn quốc.

- Đầu thế kỷ XX, bắt đầu hình thành những nền tảng đầu tiên của những tập đoàn truyền thông ảnh hưởng trong phạm vi quốc gia.

- Giữa thế kỷ XX, các tập đoàn truyền thông bắt đầu quá trình mở rộng tầm hoạt động, quy mô ảnh hưởng ra phạm vi toàn cầu.

- Cuối thế kỷ XX, các tập đoàn truyền thông khổng lồ đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa; bắt đầu sự hội tụ, tích hợp các loại hình truyền thông và các loại hình dịch vụ sống trên mạng Internet.

- Đầu thế kỷ XXI, truyền thông đa loại hình bắt đầu chi phối hoạt động sống của con người trên phạm vi toàn cầu.

Các tập đoàn truyền thông Mỹ dẫn đầu thế giới về quy mô và sức mạnh tiền bạc cũng như phạm vi ảnh hưởng. Theo số liệu thống kê năm 2008, Tập đoàn Walt Disney có 150.000 nhân viên với doanh thu 37,843 tỷ USD. Số liệu tương tự của 4 tập đoàn truyền thông hàng đầu khác của Mỹ như sau: News Corp: 64.000 nhân viên, 32,996 tỷ USD; Time Warner: 86.400 nhân viên, 17,2 tỷ USD; Viacom: 11.500 nhân viên, 14,625 tỷ USD; Gannet Inc: 41.500 nhân viên, 6,767 tỷ USD. Chỉ riêng tập đoàn mẹ Time Warner đã kiểm soát 6 công ty con với quy mô như những tập đoàn trực thuộc (AOL, Time Broadcasting, Warner Bros, HBO, Ubu, Time Inc), trong đó có những tên tuổi hiện diện hàng ngày trên toàn thế giới, như các kênh truyền hình CNN, TNT, Cartoon Network, TBS... thuộc Time Broadcasting, các kênh truyền hình giải trí Cinemax, HBO thuộc HBO.

Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng, thông tin về mọi sự kiện đang diễn ra ở bất cứ đâu trên hành tinh đều có thể được ngay lập tức tung lên các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa đến người nhận ở mọi quốc gia, khu vực. Trên thực tế, thế giới ngày nay đã trở nên nhỏ bé như một “ngôi làng truyền thông”, nếu xét theo khoảng cách không gian và thời gian vận hành dòng thông tin.

Tải tài liệu: Toàn cầu hóa truyền thông đại chúng và những hệ quả của nó

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Giáo trình Kế toán thanh toán qua ngân hàng


Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ... của khách hàng thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng là hình thức thanh toán bằng cách ngân hàng trích từ tài khoản của khách hàng này sang tài khoản của khách hàng khác theo lệnh của chủ tài khoản.

Vai trò

Thanh toán là khâu đầu tiên và khâu cuối cùng để kết thúc chu trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, có thể khẳng định rằng thanh toán là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự tuần hoàn bình thường của quá trình chu chuyển vốn trong từng doanh nghiệp, từng đơn vị kinh tế hay thậm chí là từng cá nhân trong xã hội cũng như
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Thanh toán là một khâu quan trọng trong quá trình chu chuyển vốn.Thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn sẽ làm tăng vòng quay của vốn, giảm lượng tiền trong lưu thông, tiết kiệm chi phí cho xã hội. Phương tiện được sử dụng chủ yếu trong thanh toán chủ yếu đó là tiền tệ. "Tiền tệ là loại hàng hoá đặc biệt dùng
làm vật ngang giá chung cho mọi loại hàng hoá, nó là sự thể hiện chung của giá trị, biểu hiện tính chất xã hội của lao động và sản phẩm của lao động". Tiền tệ được chấp nhận chung trong thanh toán cho hàng hoá, dịch vụ hoặc hoàn trả các món nợ, nó là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển sản xuất và lưu thông hàng
hoá, được kết tinh, hình thành một cách tự nhiên trong trao đổi.

Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, được các tổ chức và cá nhân sử dụng chi trả ngay về hàng hoá, dịch vụ cho những giao dịch có giá trị nhỏ. Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế đó và tính tiện lợi của phương tiện thanh toán, đồng thời phụ thuộc vào trình độ dân trí của mỗi quốc gia. Đối với các nước phát triển, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng phương tiện thanh toán, trong khi tỷ lệ này ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thường chiếm từ 30% đến 40%.

Thanh toán không dùng tiền mặt là quá trình thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích tiền trên tài khoản của người phải trả chuyển sang tài khoản của người hưởng thụ thông qua vai trò trung gian thanh toán là Ngân hàng. Kinh tế càng phát triển, khối lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng, quan hệ trao đổi được mở rộng, thanh toán bằng tiền mặt càng bộc lộ những hạn chế của nó như là: tính an toàn không cao, dễ bị lợi dụng để tham ô, tăng chi phí xã hội, giảm vòng quay của vốn, làm cho sản xuất kinh doanh bị chậm lại, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế.

Thanh toán không dùng tiền mặt khắc phục được những nhược điểm của thanh toán dùng tiền mặt, có tác động qua lại với các nghiệp vụ khác trong hoạt động Ngân hàng, khai thác nguồn vốn tạm thời trong xã hội để đầu tư thông qua số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức cá nhân, làm tăng hệ số tạo
tiền của Ngân hàng thương mại.

Để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng nhanh gọn, chính xác thì đòi hỏi phải tổ chức tốt khâu thanh toán. Thanh toán không dùng tiền mặt với những ưu điểm được trình bày ở trên và việc sử dụng các công cụ kỹ thuật tuỳ thuộc vào trình độ phát triển, kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán của từng thời kỳ trở thành yêu cầu khách quan của nền kinh tế hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

Tải giáo trình: Kế toán thanh toán qua ngân hàng

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Giáo trình: Các phương tiện thanh toán quốc tế


Việc lựa chọn phương tiện thanh toán này hay phương tiện thanh toán khác phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trước hết, cần xem xét mức độ thường xuyên hay không thường xuyên của các mối quan hệ thương mại. Thứ hai, cần lưu ý đến khối lượng thanh toán hay quy mô giao dịch lớn hay nhỏ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn phương tiện thanh toán nào để đảm bảo an toàn nhất. Thứ ba, cần xem xét mức độ tín nhiệm giữa các bên tham gia cao hay thấp. Thứ tư, cần tìm hiểu tập quán kinh doanh của mỗi nước để có sự lựa chọn phương tiện thanh toán phù hợp.

Các phương tiện thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Nó có vai trò hết sức quan trọng trong thanh toán quốc tế. Hoàn toàn khác với tiền kim loại đầy đủ giá trị, các phương tiện lưu thông tín dụng không có giá trị nội tại của nó mà nó chỉ là dấu hiệu của tiền tệ mà thôi. Tiền giấy là ký hiệu của tiền thật do Nhà nước phát hành, còn phương tiện lưu thông tín dụng phần lớn là do kết quả của hợp đồng mua bán hàng hóa và các nghiệp vụ của ngân hàng tạo ra. Nó thực hiện một số chức năng của tiền như là phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán, tức là nó có thể được
chuyển nhượng, mua bán từ tay người này sang tay người khác bằng cách chuyển nhượng cho người thụ hưởng hoặc chuyển giao không cần ký chuyển nhượng.

Trong chương này chúng ta chỉ nghiên cứu 4 loại phương tiện thanh toán quốc tế thông dụng trong ngoại thương, đó là hối phiếu, kỳ phiếu, séc, và thẻ nhựa.

Tải giáo trình: Các phương tiện thanh toán quốc tế

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Sách: Tài chính dành cho những nhà quản lý không chuyên


Tập sách nhỏ “Tài chính dành cho những nhà quản lý không chuyên” này của NXB McGrauHill là một kim chỉ nam quý báu giúp những nhà quản lý không chuyên nghiệp về tài chính, đặc biệt cho những ngƣời chủ doanh nghiệp, nắm bắt đƣợc những điểm cốt lõi trong những vấn đề quản trị tài chính, ý thức và hiểu biết hơn những vấn đề then chốt, biết đánh giá chính xác hơn những tín hiệu tích cực, cũng nhƣ những tín hiệu đáng ngờ, biết đặt câu hỏi, tìm tòi và quan trọng hơn: biết cách tự đi tìm câu trả lời cho mình cho những câu hỏi quan trọng đƣợc đặt ra.

Bạn cần hiểu đƣợc những thuật ngữ và công cụ chuyên môn, biết kế toán viên và kiểm toán viên làm gì, biết theo dõi dòng tiền mặt nhƣ thế nào - một vấn đề sống còn trong kinh doanh; đọc các báo cáo tài chính, các bản cân đối tài chính, hiểu biết về chính sách quản lý hàng lƣu kho, cách lập dự toán, cắt giảm chi phí, biết các “mẹo” cần thiết để xử lý những vấn đề phức tạp, hiểu đƣợc những cách làm dễ dãi của ngƣời quản lý bên dƣới, nhận ra những vấn đề tiềm ẩn, vân vân và vân vân…

Cuốn sách làm cho bạn nắm bắt những vấn đề dễ dàng, làm cho  bạn tự tin, quyết tâm và chuyên nghiệp hơn, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý. Kinh doanh không phải là mơ mộng hay theo cảm tính, mà phải chuyên nghiệp. Để có thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển trong một thế giới không ngừng cạnh tranh, trên sân nhà cũng nhƣ trên thị trƣờng thế giới, những nhà kinh doanh, các chủ doanh nghiệp, phải có những kiến thức cơ bản về những quy luật then chốt tài chính chi phối sự hoạt động của các công ty.

Bạn không thể trao hết cho ai trách nhiệm và nhiệm vụ để làm thay cho bạn, mà chính bạn phải biết cách tự học hỏi để làm chủ lấy nó. Cuốn sách quý báu này giúp bạn thực hiện những điều đó. Bạn có thể đọc nó trên đƣờng đi làm, trong giờ giải lao, nghỉ trƣa, hay trên những chuyến đi công tác. Bạn sẽ thấy mình gắn bó và sâu sát hơn với những vấn đề then chốt cho sự sống còn của công ty. Và bạn sẽ cảm thấy vững tin hơn khi đọc nó.

TS. Nguyễn Xuân Xanh

Tải sách: Tài chính dành cho những nhà quản lý không chuyên (24 bài học để hiểu và đánh giá khả năng tài chính của công ty)

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Hệ thống quản lý 6 Sigma


6 Sigma là gì?

Six Sigma là một hệ phương pháp cải tiến quy trình dựa trên thống kê nhằm giảm thiểu tỷ lệ sai sót hay khuyết tật đến mức 3,4 lỗi trên mỗi triệu khả năng gây lỗi bằng cách xác định và loại trừ các nguồn tạo nên dao động (bất ổn) trong các quy trình kinh doanh. Trong việc định nghĩa khuyết tật, Six Sigma tập trung vào việc thiết lập sự thông hiểu tường tận các yêu cầu của khách hàng và vì thế có tính định hướng khách hàng rất cao.

1. Định nghĩa

Hệ phương pháp Six Sigma dựa trên tiến trình mang tên DMAIC: Define (Xác Định), Measure (Đo Lường), Analyze (Phân Tích), Improve (Cải Tiến) và Control (Kiểm Soát). Để tìm hiểu thêm về tiến trình này, vui lòng tham khảo mục số 3 của tài liệu này về DMAIC. Six Sigma không phải là một hệ thống quản lý chất lượng, như ISO-9001, hay là một hệ thống chứng nhận chất lượng. Thay vào đó, đây là một hệ phương pháp giúp giảm thiểu khuyết tật dựa trên việc cải tiến quy trình. Đối với đa số các doanh nghiệp Việt Nam, điều này có nghĩa là thay vì tập trung vào các đề xướng chất lượng vốn ưu tiên vào việc kiểm tra lỗi trên sản phẩm, hướng tập trung được chuyển sang cải thiện quy trình sản xuất để các khuyết tật không xảy ra.

2. Các chủ đề chính của Six Sigma

Một số chủ đề chính của Six Sigma được tóm lược như sau:
• Tập trung liên tục vào những yêu cầu của khách hàng;
• Sử dụng các phương pháp đo lường và thống kê để xác định và đánh giá mức dao động trong quy trình sản xuất và các qui trình quản lý khác;
• Xác định căn nguyên của các vấn đề;
• Nhấn mạnh việc cải tiến quy trình để loại trừ dao động trong quy trình sản xuất hay các qui trình quản lý khác giúp giảm thiểu lỗi và tăng sự hài lòng của khách hàng;
• Quản lý chủ động đầy trách nhiệm trong việc tập trung ngăn ngừa sai sót, cải tiến liên tục và không ngừng vươn tới sự hoàn hảo;
• Phối hợp liên chức năng trong cùng tổ chức
• Thiết lập những mục tiêu rất cao.

Tải toàn bộ tài liệu về : Hệ thống quản lý 6 Sigma

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Bài giảng: Thanh toán qua ngân hàng điện tử


Thanh toán qua ngân hàng điện tử là hình thức thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử (máy tính cá nhân, điện thoại di động…)

Vai trò

  • Phương tiện giao tiếp mới giữa ngân hàng và khách hàng
  • Chuyển nền kinh tế từ tiền mặt qua nền kinh tế không dùng tiền mặt
  • Kiểm soát các chu chuyển tiền tệ, hạn chế rủi ro…
  • Thanh tra, giám sát chặt chẽ hơn, đảm bảo an toàn hệ thống
  • Giảm thiểu chi phí và tiết kiệm thời gian

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Thương mại điện tử - Chiến lược phát triển trong môi trường kinh doanh mới


Khái niệm thương mại điện tử

Theo nghĩa rộng:

Luật mẫu về thương mại điện tử của ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), TMĐT bao gồm tất cả các quan hệ mang tính thương mại như:


  • Các giao dịch liên quan đến việc cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ;
  • Thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, đầu tư, cấp vốn, liên doanh…;
  • Các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh;
  • Chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.

Theo nghĩa hẹp:

• Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): TMĐT được hiểu bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình.

• Theo Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc (OECD): TMĐT được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet.

Các đặc trưng của thương mại điện tử

• Các bên giao dịch không cần tiếp xúc và biết nhau từ trước;
• Khái niệm biên giới quốc gia trong TMĐT dần được xoá mờ;
• Mạng lưới thông tin trong TMĐT chính là thị trường;
• Mọi hoạt động đều có sự tham gia của ít nhất ba thành viên;
• Độ lớn về quy mô và vị trí của các doanh nghiệp không quan trọng;
• Hàng hoá trong TMĐT;
• Không gian thực hiện TMĐT;
• Tốc độ giao dịch.


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Cán cân thanh toán quốc tế và xác định tỷ giá hố đoái


Hệ thống tiền tệ quốc tế là chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ được thể hiện bằng những thoả ước và những
qui định của một số quốc gia, có hiệu lực trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định.

Mục đích:

• Tạo sự liên kết kinh tế và thúc đẩy quan hệ giao thương về kinh tế - xã hội giữa các nước trong khối;

Ví dụ: ASEAN, EU.

• Thiết lập một liên minh chính trị;

Ví dụ: Hội quốc liên, NATO.

• Củng cố vai trò và vị trí kinh tế - tiền tệ của một quốc gia nào đó trong khu vực.

Ví dụ: Kế hoạch Massall.

Nội dung:

• Đơn vị tiền tệ chung: Là đơn vị thanh toán, đo lường và dự trữ giá trị của một cộng đồng kinh tế.

Ví dụ: GBP, USD, Euro…

• Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ:

  • Qui định tỷ giá giữa đồng tiền chung với các đồng tiền thành viên của khối;
  • Qui định về lưu thông tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt và lưu thông các loại giấy tờ có giá khác ghi bằng đồng tiền chung;
  • Qui định về dự trữ ngoại hối.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Những vấn đề chung về tài chính quốc tế


Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế. Đó là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quân sự, ngoại giao… giữa các chủ thể của các quốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể đó trong các quan hệ quốc tế.

Đặc điểm của tài chính quốc tế

Phạm vi, môi trường hoạt động của các nguồn tài chính trong lĩnh vực tài chính quốc tế:
• Rộng lớn;
• Phức tạp;
• Nhiều rủi ro

Lĩnh vực tài chính quốc tế chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chính trị, nhiều hệ thống pháp lý khác nhau:

• Yếu tố chính trị khác nhau
Ví dụ: Quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh (1945 – 1991): Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Liên Xô và sử dụng đồng tiền chung là đồng rúp; Không được phép kết giao ở bất kỳ lĩnh vực nào với các nước thuộc tư bản chủ nghĩa.

• Hệ thống pháp lý khác nhau
Ví dụ: Để có đủ năng lực hành vi dân sự để ký kết hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại quốc tế, ở Việt Nam, công dân phải đủ 18 tuổi trở lên, còn ở Nhật Bản phải đủ 21 tuổi trở lên.

Xu hướng phát triển của lĩnh vực tài chính quốc tế làm cho hoạt động này ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp:
• Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các công ty đa quốc gia (TNCs);
• Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của thị trường vốn quốc tế;
• Sự hình thành và hoạt động với phạm vi và qui mô ngày càng mở rộng của các tổ chức kinh tế, tài chính-tín dụng khu vực và quốc tế;
• Xu hướng phát triển mạnh mẽ của tài chính quốc tế…

Tải tài liệu: Những vấn đề chung về tài chính quốc tế

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Những vấn đề phát sinh khi thành lập, điều hành doanh nghiệp


Tầm quan trọng của tư vấn pháp lý

Kinh tế phát triển, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện nhằm điều chỉnh chặt chẽ hơn các hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, khi quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, các quy định pháp luật trong kinh doanh quốc tế ngày càng phức tạp và các tranh chấp trong thương mại quốc tế cũng sẽ thường xuyên hơn. Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đều chưa coi trọng
yếu tố pháp luật. Đây sẽ là sai lầm lớn của doanh nghiệp khi kinh doanh trong thời kỳ hội nhập.
Người tư vấn cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp các vấn đề về pháp lý có thể là người trong nội bộ doanh nghiệp (bộ phận pháp chế) hoặc là người độc lập từ bên ngoài (các luật sư). Thông thường, các doanh nghiệp lớn mới có bộ phận pháp chế, các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp mới khởi sự đều tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý từ phía các luật sư.

Sự hỗ trợ này cung cấp và giải thích các thông tin pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, định hướng các hành vi của doanh nghiệp trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, theo các quy định pháp luật và theo các thông lệ quốc tế. Ngoài ra, việc sử dụng tư vấn từ phía các luật sư còn có các lợi ích sau:

  • Luật sư hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp cả về tài chính, tổ chức, quản lý và tình cảm. Do đó, tư vấn của luật sư hoàn toàn khách quan, vô tư vì lợi ích của doanh nghiệp, của nhiều người. 
  • Những biến động trong môi trường kinh tế, những thay đổi trong hệ thống pháp luật có thể gây khó khăn cho một số doanh nghiệp nhưng lại tạo cơ hội kinh doanh cho một số doanh nghiệp khác. Do đó, tư vấn của luật sư có thể gợi mở cho doanh nghiệp nhiều ý tưởng kinh doanh và cơ hội kinh doanh mới. 
  • Bảo đảm an toàn pháp lý cho doanh nghiệp trong mối quan hệ với các đối tượng hữu quan (người lao động, nhà cung cấp, nhà phân phối, khách hàng, cộng đồng địa phương…) và với các doanh nghiệp khác. 

Dịch vụ tư vấn pháp lý

Những vấn đề pháp lý cụ thể mà doanh nghiệp cần sự tư vấn từ các luật sư (hoặc từ bộ phận pháp chế) bao gồm: 
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp bao gồm các dịch vụ cụ thể như: tư vấn lập hồ sơ, tư vấn chọn loại hình doanh nghiệp, chọn tên công ty, về ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ, người sáng lập… 
  • Tư vấn nhượng quyền thương mại: thủ tục, hợp đồng… 
  • Tư vấn đăng ký sở hữu trí tuệ: phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa… 
  • Tư vấn soạn thảo, thẩm định, rà soát, chỉnh sửa…các loại hợp đồng kinh tế
  • Hợp đồng thương mại, hợp đồng xuất nhập khẩu, hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu, 
  • Hợp đồng đầu tư, hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh… 
  • Hợp đồng đại lý, đại diện… 
  • Hợp đồng sửa chữa, thuê, cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp nhà, đất… 
  • Hợp đồng mua bán, vận chuyển, gia công đặt hàng, kho bãi, ký gửi hàng hóa… 
  • Hợp đồng lao động 
  • Hợp đồng Li – xăng (Licence), hợp đồng chuyển giao công nghệ… 
  • Hợp đồng vay, cho vay, bảo lãnh vay tiền… 
  • Hợp đồng khác 
Tải tài liệu: Những vấn đề phát sinh khi thành lập, điều hành doanh nghiệp

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Vấn đề nhân sự lúc khởi nghiệp


Các công ty nhỏ, các doanh nghiệp mới khởi sự luôn gặp vấn đề khó khăn khi tuyển dụng và giữ chân nhân sự. Do đó các nhà lãnh đạo cần phải hiểu những khó khăn này để có thể có những công cụ và biện pháp thích hợp nhằm thu hút và khuyến khích người lao động làm việc.

Các yếu tố sau đây thường khiến người lao động e ngại khi làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp mới khởi sự:

- Sự thiếu ổn định: các doanh nghiệp mới khởi sự thường gặp những khó khăn nhất định trong giai đoạn đầu, việc kinh doanh lại luôn có những rủi ro khó lường có thể khiến doanh nghiệp ngừng hoạt động. Khi đó, công việc của người lao động sẽ bấp bênh, mất ổn định. Tuy nhiên, điều này có thể khác trong giai đoạn khủng hoảng, các doanh nghiệp lớn cũng có nguy cơ mất ổn định nếu như tình hình tài chính của doanh nghiệp không tốt.

- Cơ hội thăng tiến: các ứng viên khi tham gia tuyển dụng để làm việc trong các công ty nhỏ thường sẽ có cảm giác không có nhiều cơ hội thăng tiến, cọ xát và phát triển nghề nghiệp. Vấn đề này cần được nhà lãnh đạo giải tỏa bằng sự độc lập, tự chủ của người lao động trong công việc và qua đó họ sẽ có cơ hội tự học hỏi, rút kinh nghiệm. Điều này khác với các doanh nghiệp lớn khi tất cả công việc đã đi vào ổn định, có tiêu chuẩn và quy trình rõ ràng.

- Thu nhập và các phúc lợi ít hơn: đây là khó khăn với bất cứ doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp mới khởi nghiệp nào. Không chỉ thu nhập mà còn các phúc lợi khác như bảo hiểm, chăm sóc y tế, tham quan, nghỉ mát, cơ hội đào tạo… cũng sẽ là những yếu tố khiến người lao động cân nhắc.

- Một số yếu tố khác như: văn phòng làm việc nhỏ, không bề thế, địa điểm làm việc xa trung tâm, số lượng nhân viên ít… cũng là những điểm bất lợi đối với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp mới khởi sự và có ảnh hưởng tới tâm lý của người lao động.

Tuyển dụng nhân sự

Tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức, doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, lãnh đạo trực tiếp của bộ phận có nhu cầu tuyển dụng và cán bộ phòng nhân sự có thể tham gia trực tiếp vào quá trình tuyển dụng hoặc có thể thuê ngoài một phần hay toàn bộ quá trình tuyển dụng.

Thông thường, để tiết kiệm chi phí, các doanh nghiệp mới khởi sự chỉ sử dụng một số lượng nhân sự rất hạn chế bao gồm doanh nhân, đội ngũ lãnh đạo chủ chốt và những nhân sự có thể tận dụng được như cha mẹ, anh chị em, người thân, bạn bè… Nhu cầu tuyển dụng sẽ xuất hiện khi khối lượng công việc quá lớn hay phát sinh những công việc đòi hỏi các kỹ năng riêng biệt mà doanh nhân và đội ngũ lãnh đạo không có.

Để tuyển dụng cần thực hiện các bước công việc sau:

  • Phân tích công việc. 
  • Xác định nhu cầu tuyển dụng. 
  • Tìm kiếm nguồn tuyển dụng. 
  • Quy trình tuyển chọn.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Một số vấn đề về phân tích hoạt động kinh doanh


Phân tích hoạt động kinh doanh là việc xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, trong đó chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp khả thi giúp các doanh nghiệp có thể cải thiện được kết quả kinh doanh của mình.

Có nhiều loại phân tích hoạt động kinh doanh khác nhau được phân loại theo các cách khác nhau:
- Căn cứ vào thời điểm tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh có 3 loại:

  • Phân tích trước khi hoạt động kinh doanh diễn ra. 
  • Phân tích tác nghiệp (trong khi) hoạt động kinh doanh diễn ra. 
  • Phân tích sau khi hoạt động kinh doanh diễn ra. 

- Căn cứ vào quy mô phân tích có 2 loại:

  • Phân tích tổng hợp. 
  • Phân tích chuyên đề.

Một số thuật ngữ cơ bản trong phân tích hoạt động kinh doanh 
- Chỉ tiêu phân tích (CTPT): là chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả hoạt động kinh 
doanh hay là 1 hiện tượng kinh tế nào đó của doanh nghiệp. 
- Phương pháp phân tích (PPPT): là cách thức để phân tích chỉ tiêu phân tích. 
- Kỳ gốc và kỳ phân tích:
  • Kỳ phân tích (1): là khoảng thời gian hoạt động kinh doanh được lựa chọn để phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian ấy. 
  • Kỳ gốc (0): là khoảng thời gian hoạt động kinh doanh được lựa chọn làm gốc để so sánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với kỳ phân tích. 
  • Kỳ gốc và kỳ phân tích có thể được chọn là năm cũng có thể chọn ngắn hơn là quý, tháng hoặc dài hơn là 1 năm. 
  • Chú ý: Độ dài của kỳ phân tích và kỳ gốc phải như nhau. Kỳ phân tích có thể trùng với kỳ gốc hoặc khác với kỳ gốc. 
- Nhân tố ảnh hưởng: được hiểu là các yếu tố tác động tới hoạt động kinh doanh của 
doanh nghiệp gây ra sự biến động (sự tăng, giảm, sự thay đổi, chênh lệch) kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc. 
- Lượng hóa mức độ ảnh hưởng: là sự đo lường mức độ biến động của của các nhân 
tố tới sự biến động của chỉ tiêu phân tích.


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Tài liệu: Làm thế nào để đủ tiền kinh doanh


Khi mới bắt đầu kinh doanh, bạn sẽ phải trả lời câu hỏi: Ý tưởng kinh doanh của bạn là gì? Bạn chỉ nên thực hiện ý tưởng đó khi nó đáp ứng 2 điều kiện sau:

Thứ nhất, phải có thị trường cho ý tưởng đó. Điều này có nghĩa là người dân tại khu vực bạn định kinh doanh phải có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Đồng thời, tại khu vực đó, các nhà cung cấp hiện thời vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu của khách hàng.

Thứ hai, bạn phải có đủ các kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện ý tưởng đó. Khi đã quyết định sẽ kinh doanh mặt hàng, dịch vụ gì, vấn đề quan trọng bạn cần nghĩ đến là: Bạn có bao nhiêu tiền để kinh doanh và số tiền bạn cần để kinh doanh là bao nhiêu? Để thực hiện được ý tưởng kinh doanh đó, bạn có cần tiền để mua máy móc, thiết bị hay không? Bạn có cần tiền để đầu tư vào nơi sẽ thực hiện công việc kinh doanh như nhà xưởng, kho bãi, văn phòng hay cửa hàng, quán ăn, khách sạn, v.v hay không? Bạn cần bao nhiêu tiền
để trả lương cho người lao động, nhân viên? Bạn cần bao nhiêu tiền để chi trả cho các dịch vụ thuê ngoài như điện, nước, vận tải, v.v? Trong tổng số tiền cần để kinh doanh, bạn đã có bao nhiêu? Bạn còn thiếu bao nhiêu và huy động từ nguồn nào để bù đắp số còn thiếu đó? Việc trả lời được những câu hỏi trên rất quan trọng vì các lý do sau đây:

Nếu không xác định được số tiền cần có để kinh doanh, rất có thể mới bắt đầu kinh doanh bạn đã hết tiền và không thể huy động thêm được. Khi đó, mặc dù ý tưởng kinh doanh là rất khả thi, mang lại lợi nhuận lớn nhưng bạn vẫn thất bại. Khi đó, bạn để mất đi cơ hội kinh doanh có thể sẽ không bao giờ có lại được nữa.
Khi thất bại trong kinh doanh, ngoài thua lỗ phải chịu và cơ hội kinh doanh đã mất, có thể bạn sẽ rút ra được bài học cho bản thân mình. Nhưng cũng rất có thể bạn cũng sẽ mất đi một phần tự tin để bắt đầu lại từ đầu.
Để tránh những thất bại không đáng có, giảm thiểu những rủi ro trên, bạn cần dành đủ thời gian để xác định số tiền cần có và lên kế hoạch phù hợp cho mình.

Nội dung:

  • Bạn có bao nhiêu tiền để kinh doanh? 
  • Xác định số tiền cần có để kinh doanh. 
  •  Bạn cần vay thêm bao nhiêu tiền để kinh doanh? 
  • Bạn có thể vay tiền từ đâu?
Mục tiêu:
Sau khi kết thúc bài học, học viên sẽ có khả năng: 
  • Xác định mình cần bao nhiêu tiền để đưa vào kinh doanh; 
  • Tính được mình có bao nhiêu tiền dành cho kinh doanh; 
  • Tính được số tiền cần phải vay thêm đểkinh doanh; 
  • Lên kế hoạch vay tiền để có đủ tiền kinh doanh (trong trường hợp phải vay thêm tiền).

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Tài liệu: Soạn thảo hợp đồng kinh tế thương mại


Văn bản hợp đồng kinh tế là văn bản hết sức quan trọng đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động trên thương trường các doanh nghiệp cần phải ổn định các mối quan hệ để chủ động quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Hợp đồng kinh tế thương mại là công cụ giúp cho họ thực hiện được sự ổn định trong sản xuất kinh doanh, giúp cho họ pháp lý hóa các mối quan hệ trong sản xuất kinh doanh. Do vậy bất cứ người lãnh đạo và cán bộ quản lý nào cũng phải hiểu biết và soạn thảo thành thạo các các hợp đồng kinh tế thương mại này.

Mục tiêu

Mục tiêu cơ bản của bài là hiểu được các loại hợp đồng kinh tế thương mại và soạn thảo được
các loại hợp đồng đó với chất lượng cao.

Mục tiêu cụ thể là:

  • Hiểu được hợp đồng mua bán hàng hóa và soạn thảo được hợp đồng mua bán hàng hóa; 
  • Hiểu được hợp đồng vận chuyển hàng hóa và soạn thảo được hợp đồng vận chuyển hàng hóa; 
  • Hiểu được hợp đồng kinh tế dịch vụ và soạn thảo được hợp đồng kinh tế dịch vụ; 
  • Hiểu được hợp đồng nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật và soạn thảo được hợp đồng nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật; 
  • Hiểu được hợp đồng liên kết kinh tế và soạn thảo được hợp đồng liên kết kinh tế.
  • Những vấn đề chung về văn bản hợp đồng kinh tế thương mại; 
  • Soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa; 
  • Soạn thảo hợp đồng vận chuyển hàng hóa; 
  • Soạn thảo hợp đồng kinh tế dịch vụ; 
  • Soạn thảo hợp đồng nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật; 
  • Soạn thảo hợp đồng liên kết kinh tế.
Tải tài liệu: Soạn thảo hợp đồng kinh tế thương mại

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Tài liệu: Lập kế hoạch kinh doanh thương mại điện tử


Để có được nhiều sáng kiến trong TMĐT, một kế hoạch chi tiết nêu rõ sức mạnh vốn có của doanh nghiệp và khả năng doanh nghiệp tận dụng những điểm mạnh đó để vượt qua thách thức khi bắt đầu kinh doanh trên mạng. Mỗi doanh nghiệp có những phương thức riêng biệt để triển khai thương mại điện tử. Có doanh nghiệp chủ trương làm những điều thật to lớn và trở thành những biểu tượng của thành công, trong khi đó nhiều doanh nghiệp khác lại thích cổ điển, truyền thống hơn. Dù lựa chọn con đường nào đi chăng nữa, doanh nghiệp cũng đều cần phải có kế hoạch.

Bài này sẽ phân tích một số vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp cần quan tâm để đạt được thành công trên Internet. Ngoài ra chương cũng đề cập tới một số nội dung mở rộng giúp doanh nghiệp có thể tự tin tham gia vào lĩnh vực Thương mại điện tử đầy sôi động.

Mục tiêu
Sau khi học xong bài học, các bạn sẽ:

  • • Hiểu lý do cần thiết phải lập kế hoạch kinh doanh trước khi tham gia vào thương mại điện tử
  • • Xác định phạm vi triển khai, xác định nguồn lực 
  • • Lên kế hoạch và tiến hành triển khai dựán thương mại điện tử
Nội dung:

  • Tại sao phải lập kế hoạch kinh doanh cho dự án thương mại điện tử
  • • Các nội dung cụ thể của kế hoạch kinh doanh điện tử
  • • Kế hoạch triển khai và những điểm cần lưu ý 

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Tài liệu: Thanh toán điện tử


Trước yêu cầu của một phương thức kinh doanh thương mại hiện đại (electronic commerce), các hình thức thanh toán đã và đang là mối quan tâm hàng đầu về tính năng sử dụng, tính bảo mật và rủi ro phát sinh đối với cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Trong bài này, chúng ta phân tích và giải đáp các vấn đề liên quan đến đảm bảo an toàn cho thương mại điện tử và thanh toán điện tử.

Mục tiêu
Học xong bài này, học viên sẽ nắm được:

  • Các phương thức thanh toán trực tuyến. 
  • Thanh toán điện tử B2C. 
  • Thanh toán điện tử B2B. 
  • Xuất trình chứng từ điện tử trong thanh toán bằng L/C. 
  • Quản lý rủi ro trong thanh toán điện tử.
Nội dung

  • Khái niệm về thanh toán điện tử. 
  • Khái niệm thanh toán điện tử. 
  • Các loại thẻ sử dụng trong thanh toán. 
  • Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C). 
  • Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B).
  • Quản lý rủi ro trong thanh toán điện tử
Tải tài liệu: Thanh toán điện tử

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don