Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh toán online. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh toán online. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt


Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó quy định mở tài khoản thanh toán cá nhân; tạm khóa, đóng tài khoản thanh toán.

Đối tượng áp dụng Nghị định này là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ trung gian thanh toán (người sử dụng dịch vụ).

Nghị định nêu rõ, người mở tài khoản thanh toán là cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng. Đối với người chưa thành niên khi mở tài khoản thanh toán phải có người giám hộ theo quy định của pháp luật .  

 Tài khoản thanh toán chung là tài khoản thanh toán có ít nhất hai chủ thể trở lên cùng đứng tên mở tài khoản. Chủ tài khoản thanh toán chung là tổ chức hoặc cá nhân. Mục đích sử dụng tài khoản thanh toán chung, quyền và nghĩa vụ của các chủ tài khoản thanh toán chung và các quy định liên quan đến việc sử dụng tài khoản chung phải được xác định rõ bằng văn bản.

Chủ tài khoản được sử dụng tài khoản thanh toán để nộp, rút tiền mặt và yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thực hiện các giao dịch thanh toán hợp lệ. Đồng thời, chủ tài khoản có quyền yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung cấp thông tin về giao dịch và số dư trên tài khoản thanh toán.

Chủ tài khoản có thể ủy quyền có thời hạn bằng văn bản cho người khác sử dụng tài khoản thanh toán theo quy định của pháp luật.

Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có quyền từ chối thực hiện lệnh thanh toán không hợp lệ của chủ tài khoản, hoặc khi trên tài khoản thanh toán không đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp từ chối, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải thông báo ngay lý do cho chủ tài khoản.

4 trường hợp tài khoản thanh toán bị phong tỏa

Tài khoản thanh toán được tạm khóa (tạm dừng giao dịch) một phần hoặc toàn bộ số tiền trên tài khoản khi chủ tài khoản yêu cầu hoặc theo thỏa thuận trước giữa chủ tài khoản và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Tài khoản thanh toán bị phong tỏa một phần hoặc toàn bộ số tiền trên tài khoản trong 4 trường hợp: 1- Khi có quyết định hoặc yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; 2- Khi tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát hiện có nhầm lẫn, sai sót về chuyển tiền; 3- Khi tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát hiện có dấu hiệu gian lận, vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động thanh toán; 4- Khi có tranh chấp giữa các chủ tài khoản thanh toán chung.

Việc đóng tài khoản thanh toán được thực hiện khi: Chủ tài khoản có yêu cầu và đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến tài khoản thanh toán; chủ tài khoản là cá nhân bị chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức có tài khoản thanh toán chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật; chủ tài khoản vi phạm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;...

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/3/2013.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Toàn cầu hóa truyền thông đại chúng và những hệ quả của nó


Khẳng định toàn cầu hóa truyền thông đại chúng đã trở thành hiện thực từ giữa thế kỷ XX, trong bài viết này, tác giả không chỉ tập trung làm rõ thực chất của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng được thể hiện ở sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh của các loại hình phương tiện và các chủ thể chi phối, ở sự quy chuẩn hóa công nghệ truyền thông diễn ra trên phạm vi toàn cầu và ở môi trường truyền thông, mà còn chỉ ra và phân tích các yếu tố điều kiện của nó, những hệ quả của nó, cả những hệ quả tích cực lẫn hệ quả tiêu cực.

Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học đã dự báo về khả năng phát triển mạnh mẽ có tính chất bùng nổ và mở rộng quy mô ảnh hưởng toàn thế giới của các phương tiện truyền thông đại chúng, dẫn tới việc thu nhỏ không gian và thời gian thông tin - truyền thông trên phạm vi toàn thế giới, hình thành “làng thông tin toàn cầu”. Những dự báo đó đã dần trở thành hiện thực từ những năm giữa thế kỷ XX khi nhân loại bước vào cuộc cách mạng khoa học – công nghệ lần thứ ba - cuộc cách mạng tin học, với sự ra đời của mạng máy tính Internet, hệ thống cáp quang và hệ thống vệ tinh địa tĩnh.

Thực chất của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng


Thực chất của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng là quá trình phát triển mạnh mẽ, mở rộng
quy mô hoạt động, phạm vi ảnh hưởng ra toàn cầu của các phương tiện truyền thông đại chúng.
Có thể thấy nội dung của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng được phản ánh ở những tiến
trình thực tiễn sau:

- Sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh của các loại hình phương tiện và các chủ thể chi phối truyền thông đại chúng là nội dung đầu tiên của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng.(*) Sự ra đời của báo chí in hiện đại vào cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII đã đánh dấu bước khởi đầu của kỷ nguyên truyền thông đại chúng trong tiến trình phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, trong suốt 3 thế kỷ tồn tại và phát triển của mình (từ thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XIX), báo in đã vận hành một cách chậm chạp với “những bước chân của người đi bộ”. Nó chỉ dần trở nên phổ biến ở Tây Âu – cái nôi ra đời của báo in cùng Bắc Mỹ và một số quốc gia, khu vực có liên hệ mật thiết với các quốc gia phương Tây. Ngay cả ở khu vực này thì báo chí cũng chỉ mới là thứ sản phẩm của văn hóa thành thị, cái thứ mà người dân nông thôn vẫn còn xa lạ. Thậm chí, đến tận cuối thế kỷ XIX, ở một số quốc gia, lãnh thổ trên thế giới, người ta vẫn chưa thấy sự hiện diện của báo in, chưa hình dung ra báo in là gì.

Tuy nhiên, khi nhân loại bước sang thế kỷ XX, tình hình đã khác hẳn. Sự ra đời của phát thanh (radio), truyền hình (television) ở nửa đầu thế kỷ, đặc biệt là sự xuất hiện của máy tính điện tử cá nhân (person computer) và tiếp theo là mạng máy tính toàn cầu (Internet) đã tạo ra bước nhảy vọt có tính chất bùng nổ trong lĩnh vực truyền thông đại chúng. Vào thời điểm hiện nay, các phương tiện truyền thông đại chúng, như báo in, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, các loại băng, đĩa âm thanh, hình ảnh, v.v. đã hiện diện trong đời sống thường nhật, trở thành một nhu cầu sinh hoạt văn hóa không thể thiếu đối với tuyệt đại bộ phận người dân trên toàn hành tinh. Hàng tỷ người ở các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới đang hàng ngày, hàng giờ làm việc, giải trí thông qua và bằng Internet.

Cùng với sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng, các chủ thể truyền thông đại chúng cũng phát triển mạnh mẽ về quy mô, sức mạnh ảnh hưởng. Có thể mô tả lộ trình phát triển quy mô của các chủ thể truyền thông đại chúng trên thế giới như sau:

- Ở thời điểm cuối thế kỷ XIX, thế giới chủ yếu chỉ biết đến những tờ báo độc lập, hoạt động trong phạm vị địa phương, thành phố cụ thể và ở một số ít quốc gia phát triển phương Tây mới có những tờ báo có phạm vi ảnh hưởng trên phạm vi toàn quốc.

- Đầu thế kỷ XX, bắt đầu hình thành những nền tảng đầu tiên của những tập đoàn truyền thông ảnh hưởng trong phạm vi quốc gia.

- Giữa thế kỷ XX, các tập đoàn truyền thông bắt đầu quá trình mở rộng tầm hoạt động, quy mô ảnh hưởng ra phạm vi toàn cầu.

- Cuối thế kỷ XX, các tập đoàn truyền thông khổng lồ đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa; bắt đầu sự hội tụ, tích hợp các loại hình truyền thông và các loại hình dịch vụ sống trên mạng Internet.

- Đầu thế kỷ XXI, truyền thông đa loại hình bắt đầu chi phối hoạt động sống của con người trên phạm vi toàn cầu.

Các tập đoàn truyền thông Mỹ dẫn đầu thế giới về quy mô và sức mạnh tiền bạc cũng như phạm vi ảnh hưởng. Theo số liệu thống kê năm 2008, Tập đoàn Walt Disney có 150.000 nhân viên với doanh thu 37,843 tỷ USD. Số liệu tương tự của 4 tập đoàn truyền thông hàng đầu khác của Mỹ như sau: News Corp: 64.000 nhân viên, 32,996 tỷ USD; Time Warner: 86.400 nhân viên, 17,2 tỷ USD; Viacom: 11.500 nhân viên, 14,625 tỷ USD; Gannet Inc: 41.500 nhân viên, 6,767 tỷ USD. Chỉ riêng tập đoàn mẹ Time Warner đã kiểm soát 6 công ty con với quy mô như những tập đoàn trực thuộc (AOL, Time Broadcasting, Warner Bros, HBO, Ubu, Time Inc), trong đó có những tên tuổi hiện diện hàng ngày trên toàn thế giới, như các kênh truyền hình CNN, TNT, Cartoon Network, TBS... thuộc Time Broadcasting, các kênh truyền hình giải trí Cinemax, HBO thuộc HBO.

Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng, thông tin về mọi sự kiện đang diễn ra ở bất cứ đâu trên hành tinh đều có thể được ngay lập tức tung lên các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa đến người nhận ở mọi quốc gia, khu vực. Trên thực tế, thế giới ngày nay đã trở nên nhỏ bé như một “ngôi làng truyền thông”, nếu xét theo khoảng cách không gian và thời gian vận hành dòng thông tin.

Tải tài liệu: Toàn cầu hóa truyền thông đại chúng và những hệ quả của nó

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Giáo trình Kế toán thanh toán qua ngân hàng


Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ... của khách hàng thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng là hình thức thanh toán bằng cách ngân hàng trích từ tài khoản của khách hàng này sang tài khoản của khách hàng khác theo lệnh của chủ tài khoản.

Vai trò

Thanh toán là khâu đầu tiên và khâu cuối cùng để kết thúc chu trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, có thể khẳng định rằng thanh toán là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự tuần hoàn bình thường của quá trình chu chuyển vốn trong từng doanh nghiệp, từng đơn vị kinh tế hay thậm chí là từng cá nhân trong xã hội cũng như
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Thanh toán là một khâu quan trọng trong quá trình chu chuyển vốn.Thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn sẽ làm tăng vòng quay của vốn, giảm lượng tiền trong lưu thông, tiết kiệm chi phí cho xã hội. Phương tiện được sử dụng chủ yếu trong thanh toán chủ yếu đó là tiền tệ. "Tiền tệ là loại hàng hoá đặc biệt dùng
làm vật ngang giá chung cho mọi loại hàng hoá, nó là sự thể hiện chung của giá trị, biểu hiện tính chất xã hội của lao động và sản phẩm của lao động". Tiền tệ được chấp nhận chung trong thanh toán cho hàng hoá, dịch vụ hoặc hoàn trả các món nợ, nó là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển sản xuất và lưu thông hàng
hoá, được kết tinh, hình thành một cách tự nhiên trong trao đổi.

Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, được các tổ chức và cá nhân sử dụng chi trả ngay về hàng hoá, dịch vụ cho những giao dịch có giá trị nhỏ. Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế đó và tính tiện lợi của phương tiện thanh toán, đồng thời phụ thuộc vào trình độ dân trí của mỗi quốc gia. Đối với các nước phát triển, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng phương tiện thanh toán, trong khi tỷ lệ này ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thường chiếm từ 30% đến 40%.

Thanh toán không dùng tiền mặt là quá trình thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích tiền trên tài khoản của người phải trả chuyển sang tài khoản của người hưởng thụ thông qua vai trò trung gian thanh toán là Ngân hàng. Kinh tế càng phát triển, khối lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng, quan hệ trao đổi được mở rộng, thanh toán bằng tiền mặt càng bộc lộ những hạn chế của nó như là: tính an toàn không cao, dễ bị lợi dụng để tham ô, tăng chi phí xã hội, giảm vòng quay của vốn, làm cho sản xuất kinh doanh bị chậm lại, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế.

Thanh toán không dùng tiền mặt khắc phục được những nhược điểm của thanh toán dùng tiền mặt, có tác động qua lại với các nghiệp vụ khác trong hoạt động Ngân hàng, khai thác nguồn vốn tạm thời trong xã hội để đầu tư thông qua số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức cá nhân, làm tăng hệ số tạo
tiền của Ngân hàng thương mại.

Để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng nhanh gọn, chính xác thì đòi hỏi phải tổ chức tốt khâu thanh toán. Thanh toán không dùng tiền mặt với những ưu điểm được trình bày ở trên và việc sử dụng các công cụ kỹ thuật tuỳ thuộc vào trình độ phát triển, kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán của từng thời kỳ trở thành yêu cầu khách quan của nền kinh tế hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

Tải giáo trình: Kế toán thanh toán qua ngân hàng

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Bài giảng: Thanh toán qua ngân hàng điện tử


Thanh toán qua ngân hàng điện tử là hình thức thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử (máy tính cá nhân, điện thoại di động…)

Vai trò

  • Phương tiện giao tiếp mới giữa ngân hàng và khách hàng
  • Chuyển nền kinh tế từ tiền mặt qua nền kinh tế không dùng tiền mặt
  • Kiểm soát các chu chuyển tiền tệ, hạn chế rủi ro…
  • Thanh tra, giám sát chặt chẽ hơn, đảm bảo an toàn hệ thống
  • Giảm thiểu chi phí và tiết kiệm thời gian

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Các phương pháp thanh toán trực tuyến


Ở một số nước, thẻ tín dụng không phổ biến vì thế bạn cần cân nhắc để đưa ra phương thức thanh toán phù hợp cho các khách hàng quốc tế. Nếu khả năng cho phép bạn nên cung cấp càng nhiều phương thức thanh toán càng tốt. Đó chính là cách làm tăng lòng tin và tính thuận tiện cho khách hàng, do đó thúc đẩy doanh số và lợi nhuận. Nhiều phương pháp lựa chọn phù hợp với việc thanh toán nhỏ – chi phí dưới 1 USD bởi vì chi phí lưu chuyển sẽ thấp hơn và không mất phí merchant account bằng thẻ tín dụng.
Thẻ tín dụng vẫn được xem như là phương pháp thanh toán thịnh hành nhất khi giao dịch trực tuyến, tuy nhiên cũng có nhiều phương pháp thanh toán khác. Sản phẩm của bạn và sự lựa chọn của khách hàng sẽ quyết định phương pháp thanh toán nào mà bạn chấp nhận.

Ở một số nước, thẻ tín dụng không phổ biến vì thế bạn cần cân nhắc để đưa ra phương thức thanh toán phù hợp cho các khách hàng quốc tế. Nếu khả năng cho phép bạn nên cung cấp càng nhiều phương thức thanh toán càng tốt. Đó chính là cách làm tăng lòng tin và tính thuận tiện cho khách hàng, do đó thúc đẩy doanh số và lợi nhuận. Nhiều phương pháp lựa chọn phù hợp với việc thanh toán nhỏ – chi phí dưới 1 USD bởi vì chi phí lưu chuyển sẽ thấp hơn và không mất phí merchant account bằng thẻ tín dụng.
Các nhà cung cấp đưa ra các phương pháp thanh toán khác nhau như việc chuyển tiền bằng hoá đơn điện thoại, phương pháp chuyển tiền bằng điện tử (EFT) và séc điện tử (e-check). Họ giải quyết những giao dịch này thông qua máy chủ hoặc chương trình phần mềm payment gateway để mã hoá thông tin. Điều này đảm bảo các phương pháp thanh toán an toàn cho khách hàng khi mua hàng. Với phương pháp EFT, mọi cước phí điện thoại, tiền thanh toán và thẻ ghi nợ đều được kiểm tra trước khi quá trình thanh toán hoàn thành. Do đó hạn chế gian trá và thiếu tiền.

Khách hàng có thể trả tiền bằng hoá đơn điện thoại

Website eCharge.com thực hiện phương pháp thanh toán bằng cách cho phép những người sử dụng Internet chuyển chi phí mua bán thành hoá đơn điện thoại. Với eCharge, các mặt hàng dưới 1 USD có thể thực hiện phương pháp thanh toán này. Chi phí thấp giúp cho phương pháp thanh toán này phù hợp với các dịch vụ như thuê bao và sản phẩm có mã hoá. Để thực hiện phương pháp thanh toán này, người bán cần đăng ký dịch vụ hoá đơn và cung cấp một đường nối giữa eCharge với trang Web kinh doanh. Khách hàng trước hết phải download phần mềm miễn phí xuống máy tính của họ để sử dụng dịch vụ. Sau đó eCharge trực tiếp nối với modem của khách hàng với máy chủ. Máy chủ tự động giữ các thông tin về hoá đơn. eCharge cung cấp cho khách hàng dịch vụ hoá đơn quen thuộc (dưới hình thức hoá đơn nội hạt) và tiến hành quá thực hiện giống như quá trình kết nối Internet.
Không có cước phí hàng tháng nhưng cần có phí cài đặt là 50 USD và eCharge tính phí cho mỗi cuộc giao dịch là 8.25%. Khách hàng phải trả 0.5 USD cho các giao dịch dưới 10 USD,1 USD cho giao dịch từ 10 đến 35 USD và 2 USD cho giao dịch trên 35 USD. Các nhà kinh doanh cần lựa chọn để thu hút khách hàng.
Thanh toán bằng séc điện tử và chuyển tiền bằng điện tử có khác nhau. EFT khấu trừ tiền thanh toán từ tài khoản ngân hàng của một doanh nghiệp hoặc của cá nhân và tiền được kiểm tra trước khi chấp thuận phương pháp EFT. Không cần tài khoản ngân hàng đặc biệt (merchant account) nhưng bạn cần có một nhà cung cấp phương pháp chuyển tiền bằng điện tử e-check phát sinh một loại séc bằng giấy mà theo đó người mua phải đặt cọc vào tài khoản tiền gửi của người bán một khoản tiền và bất cứ một séc tiêu chuẩn nào cũng phải thông qua quá trình này.

Phần II: Phương pháp chuyển tiền bằng điện tử và thanh toán bằng séc điện tử EFT và e-check

Thanh toán bằng séc điện tử và chuyển tiền bằng điện tử có khác nhau. EFT khấu trừ tiền thanh toán từ tài khoản ngân hàng của một doanh nghiệp hoặc của cá nhân và tiền được kiểm tra trước khi chấp thuận phương pháp EFT.

Không cần tài khoản ngân hàng đặc biệt (merchant account) nhưng bạn cần có một nhà cung cấp phương pháp chuyển tiền bằng điện tử e-check phát sinh một loại séc bằng giấy mà theo đó người mua phải đặt cọc vào tài khoản tiền gửi của người bán một khoản tiền và bất cứ một séc tiêu chuẩn nào cũng phải thông qua quá trình này.
Giống như séc bằng giấy, séc điện tử có thể quay trở lại khi trong quỹ không đủ tiền để thanh toán, trong khi đó phương pháp EFT cần kiểm tra trước khi quá trình thanh toán hoàn thành. Thông thường e-check không yêu cầu bất cứ một cái gì khác ngoài tài khoản tiền gửi. Đây chính là phương pháp thanh toán tuyệt vời cho các giao dịch B2B.

Nhìn chung, phương pháp EFT được coi là phương pháp nhanh hơn và đáng tin cậy hơn phương pháp thanh toán bằng e-check. Phương pháp EFT tự động kiểm tra tiền gửi và ngay lập tức chuyển sang tài khoản của bạn. Sử dụng e-check vẫn phát sinh trường hợp rút quá tiền bất kể séc điện tử hay séc bằng giấy. Nếu như tiền trong tài khoản tiền gửi của bạn không còn để trả bằng e-check thì người bán cần phải thông qua các bước bắt buộc để thanh toán lại bằng séc tiêu chuẩn. Khách hàng có thể phải trả tiền rút quá ở ngân hàng và tiền phạt.

Redicheck và RediEFT là hai phương tiện thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi.

Để chấp nhận phương pháp thanh toán e-check hay EFT, bạn và khách hàng của bạn không cần sử dụng phần cứng hay phần mềm. Mã số được tích hợp vào hệ thống trang web của bạn và nối khách hàng với máy chủ bảo mật. Một khi làm được điều này thì những hệ thống này sẽ cung cấp những thông tin tài khoản ngân hàng cần thiết và như vậy bắt đầu phương pháp EFT và phương pháp thanh toán e-check.

Người bán và người mua ngay lập tức nhận được tờ kiểm tra đơn đặt hàng và người bán nhận được tên, địa chỉ, điện thoại, địa chỉ email, đơn đặt hàng và số lượng hàng của khách hàng. Khi sử dụng dịch vụ này tức là bạn thực hiện hệ thống EFT qua đường điện thoại hoặc fax. Bạn - người bán -  đơn giản chỉ thu thập thông tin từ khách hàng và sau đó đưa thông tin vào phần mềm EFT của bạn và liệu nó có hoạt động trên máy tính cá nhân của bạn, điểm đến kinh doanh hay tự động thông qua web.

Nhiều nhà cung cấp merchant account (MAP) chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng đã đưa ra phương pháp thanh toán EFT và e-check. Charge.com – một trong những dịch vụ của MAP sẽ cung cấp hệ thống cài đặt e-check miễn phí khi bạn yêu cầu một merchant account.

Qpass.com cung cấp cho khách hàng hoá đơn hàng tháng để trả cho các sản phẩm được mua trên mạng. Qpass.com cung cấp cho khách hàng: nội dung mua hàng như phần mềm, thuê bao, ca nhạc…và liên kết với mạng Qpass. Những khách hàng đã đăng ký có thể đến trang mua hàng và tiến hành giao dịch. Hàng tháng Qpass thanh toán bằng thẻ tín dụng của khách hàng và người bán nhận tiền thanh toán. Hình thức thanh toán này rất phù hợp với việc thanh toán nhỏ và phương thức trả tiền cho mỗi lần sử dụng hàng hoá.
Phương pháp thanh toán hàng tháng

    Qpass.com cung cấp cho khách hàng hoá đơn hàng tháng để trả cho các sản phẩm được mua trên mạng. Qpass.com cung cấp cho khách hàng: nội dung mua hàng như phần mềm, thuê bao, ca nhạc…và liên kết với mạng Qpass. Những khách hàng đã đăng ký có thể đến trang mua hàng và tiến hành giao dịch. Hàng tháng Qpass thanh toán bằng thẻ tín dụng của khách hàng và người bán nhận tiền thanh toán. Hình thức thanh toán này rất phù hợp với việc thanh toán nhỏ và phương thức trả tiền cho mỗi lần sử dụng hàng hoá.
Intercoin.com là một dịch vụ tương tự như vậy. Hiện nay trong hệ thống kiểm tra bằng beta, cho phép những người có tài khoản đăng ký trả chi phí nhỏ cho người bán. Hàng tháng, Intercoin thanh toán vào thẻ tín dụng của người có tài khoản hoặc khấu trừ tài khoản tiền gửi bằng phương pháp điện tử. Một điều bất lợi của phương pháp thanh toán này là ở chỗ người bán không nhận được tiền thanh toán từ Intercoin mãi đến khi khách hàng trả tiền.

Phương pháp mua hàng trả trước

    RocketCash.com là một dịch vụ mua hàng trực tuyến trên mạng cho phép các bậc phụ huynh lập một tài khoản để con cái của họ có thể mua hàng từ các chi nhánh của RocketCash. Các bậc phụ huynh đưa tiền vào tài khoản sử dụng số thẻ tín dụng, bằng séc hoặc bằng lệnh chuyển tiền. Họ cũng có thể gia hạn tài khoản như thời gian mà con họ có thể truy cập vào địa điểm mà chúng có thể đến thăm.
RocketCash.com cho phép khách hàng mua hàng trực tiếp tại website của người bán. Khách hàng có thể truy cập đến các website đó vào các mục chào hàng, tranh ảnh, hàng khuyến mại…Và hầu như không có sự khác nhau nào giữa khách hàng của RocketCash và khách hàng đến thăm trang web của bạn và trả bằng thẻ tín dụng. RocketCash dùng công nghệ độc quyền và người bán hàng chỉ cần đăng ký là thành viên của RocketCash để cung cấp dịch vụ này cho khách hàng.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Bài giảng cán cân thanh toán quốc tế


Cán cân thanh toán quốc tế là:


  • Là bảng cân đối, so sánh và đối chiếu giữa các khoản tiền thu được từ ở nước ngoài với các khoản tiền phải chi trả cho nước ngoài 
  • Là một biểu tổng hợp phản ánh tất cả các giao dịch dưới hình thức tiền tệ của một nước với các nước khác 
  • Là một bản báo cáo thống kê ghi chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa những người cư trú với người không cư trú (IMF).

Phân loại cán cân thanh toán quốc tế
  • Cán cân thời điểm khác với cán cân thời kỳ
  • Cán cân song phương khác với cán cân đa phương
  • Cán cân chi trả và cán cân thu chi
Vai trò của cán cân thanh toán quốc tế

Ở tầm quản lý kinh tế vĩ mô:
  • Chính sách đối ngoại nói chung và chính sách thương mại quốc tế nói riêng 
  • Kiểm soát sự di chuyển của các luồng vốn: Đầu tư nước ngoài và xuất khẩu vốn
  • Điều hành chính sách tỷ giá
Ở tầm vi mô:
  • Cung cầu ngoại tệ và dự đoán sự biến động tỷ giá
  • Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
  • Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 
Tải bài giảng: cán cân thanh toán quốc tế

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Thương mại điện tử - Chiến lược phát triển trong môi trường kinh doanh mới


Khái niệm thương mại điện tử

Theo nghĩa rộng:

Luật mẫu về thương mại điện tử của ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), TMĐT bao gồm tất cả các quan hệ mang tính thương mại như:


  • Các giao dịch liên quan đến việc cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ;
  • Thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, đầu tư, cấp vốn, liên doanh…;
  • Các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh;
  • Chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.

Theo nghĩa hẹp:

• Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): TMĐT được hiểu bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình.

• Theo Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc (OECD): TMĐT được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet.

Các đặc trưng của thương mại điện tử

• Các bên giao dịch không cần tiếp xúc và biết nhau từ trước;
• Khái niệm biên giới quốc gia trong TMĐT dần được xoá mờ;
• Mạng lưới thông tin trong TMĐT chính là thị trường;
• Mọi hoạt động đều có sự tham gia của ít nhất ba thành viên;
• Độ lớn về quy mô và vị trí của các doanh nghiệp không quan trọng;
• Hàng hoá trong TMĐT;
• Không gian thực hiện TMĐT;
• Tốc độ giao dịch.


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Những vấn đề chung về tài chính quốc tế


Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế. Đó là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quân sự, ngoại giao… giữa các chủ thể của các quốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể đó trong các quan hệ quốc tế.

Đặc điểm của tài chính quốc tế

Phạm vi, môi trường hoạt động của các nguồn tài chính trong lĩnh vực tài chính quốc tế:
• Rộng lớn;
• Phức tạp;
• Nhiều rủi ro

Lĩnh vực tài chính quốc tế chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chính trị, nhiều hệ thống pháp lý khác nhau:

• Yếu tố chính trị khác nhau
Ví dụ: Quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh (1945 – 1991): Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Liên Xô và sử dụng đồng tiền chung là đồng rúp; Không được phép kết giao ở bất kỳ lĩnh vực nào với các nước thuộc tư bản chủ nghĩa.

• Hệ thống pháp lý khác nhau
Ví dụ: Để có đủ năng lực hành vi dân sự để ký kết hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại quốc tế, ở Việt Nam, công dân phải đủ 18 tuổi trở lên, còn ở Nhật Bản phải đủ 21 tuổi trở lên.

Xu hướng phát triển của lĩnh vực tài chính quốc tế làm cho hoạt động này ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp:
• Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các công ty đa quốc gia (TNCs);
• Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của thị trường vốn quốc tế;
• Sự hình thành và hoạt động với phạm vi và qui mô ngày càng mở rộng của các tổ chức kinh tế, tài chính-tín dụng khu vực và quốc tế;
• Xu hướng phát triển mạnh mẽ của tài chính quốc tế…

Tải tài liệu: Những vấn đề chung về tài chính quốc tế

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Tài liệu: Lập kế hoạch kinh doanh thương mại điện tử


Để có được nhiều sáng kiến trong TMĐT, một kế hoạch chi tiết nêu rõ sức mạnh vốn có của doanh nghiệp và khả năng doanh nghiệp tận dụng những điểm mạnh đó để vượt qua thách thức khi bắt đầu kinh doanh trên mạng. Mỗi doanh nghiệp có những phương thức riêng biệt để triển khai thương mại điện tử. Có doanh nghiệp chủ trương làm những điều thật to lớn và trở thành những biểu tượng của thành công, trong khi đó nhiều doanh nghiệp khác lại thích cổ điển, truyền thống hơn. Dù lựa chọn con đường nào đi chăng nữa, doanh nghiệp cũng đều cần phải có kế hoạch.

Bài này sẽ phân tích một số vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp cần quan tâm để đạt được thành công trên Internet. Ngoài ra chương cũng đề cập tới một số nội dung mở rộng giúp doanh nghiệp có thể tự tin tham gia vào lĩnh vực Thương mại điện tử đầy sôi động.

Mục tiêu
Sau khi học xong bài học, các bạn sẽ:

  • • Hiểu lý do cần thiết phải lập kế hoạch kinh doanh trước khi tham gia vào thương mại điện tử
  • • Xác định phạm vi triển khai, xác định nguồn lực 
  • • Lên kế hoạch và tiến hành triển khai dựán thương mại điện tử
Nội dung:

  • Tại sao phải lập kế hoạch kinh doanh cho dự án thương mại điện tử
  • • Các nội dung cụ thể của kế hoạch kinh doanh điện tử
  • • Kế hoạch triển khai và những điểm cần lưu ý 

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Tài liệu: Thanh toán điện tử


Trước yêu cầu của một phương thức kinh doanh thương mại hiện đại (electronic commerce), các hình thức thanh toán đã và đang là mối quan tâm hàng đầu về tính năng sử dụng, tính bảo mật và rủi ro phát sinh đối với cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Trong bài này, chúng ta phân tích và giải đáp các vấn đề liên quan đến đảm bảo an toàn cho thương mại điện tử và thanh toán điện tử.

Mục tiêu
Học xong bài này, học viên sẽ nắm được:

  • Các phương thức thanh toán trực tuyến. 
  • Thanh toán điện tử B2C. 
  • Thanh toán điện tử B2B. 
  • Xuất trình chứng từ điện tử trong thanh toán bằng L/C. 
  • Quản lý rủi ro trong thanh toán điện tử.
Nội dung

  • Khái niệm về thanh toán điện tử. 
  • Khái niệm thanh toán điện tử. 
  • Các loại thẻ sử dụng trong thanh toán. 
  • Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C). 
  • Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B).
  • Quản lý rủi ro trong thanh toán điện tử
Tải tài liệu: Thanh toán điện tử

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don


Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Con đường tránh nợ trong kinh doanh


Đối với nhiều doanh nhân, cụm từ "kinh doanh" và "nợ nần" luôn song hành với nhau. Trong con mắt các khách hàng cũng như các nhà đầu tư, việc không nợ nần được xem như nhân tố quan trọng nhất tạo dựng uy tín và hình ảnh đẹp của doanh nghiệp.

Trong kinh doanh ngày nay, các khoản nợ sẽ rất dễ dàng chồng chất nhanh chóng đến mức đủ để loại doanh nghiệp ra khỏi cuộc chơi trước khi kịp tìm ra giải pháp khắc phục.

Vấn đề ở chỗ nợ nần dường như trở thành một phần tất yếu trong kinh doanh thường nhật, rất ít doanh nghiệp có thể tránh khỏi những khoản nợ phát sinh. Và theo thời gian, các khoản nợ như một “cái gai khó chịu” cần được loại bỏ khi nó làm gia tăng mức độ rủi ro kinh doanh.

Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể. Chắc chắn tồn tại những căn nguyên dẫn tới nợ nần kinh doanh và một khi biết rõ chúng, các doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng tránh xa. Hãy dành thời gian để xem xét dòng tiền của doanh nghiệp và rất có thể doanh nghiệp sẽ phát hiện ra các con số chi phí xa lạ cần được loại bỏ để cải thiện sức khoẻ tài chính.
Duới đây là 8 căn nguyên dẫn tới nợ nần và khi các doanh nghiệp tránh xa được chúng, kết quả thành công là hiển nhiên.

1. Không gắn chặt với những nhân tố thiết yếu

Điểm khởi đầu thích hợp là nguyên tắc "bao gồm tất cả" và "nắm bắt tất cả". Theo đó, các chủ doanh nghiệp hãy là một người thông minh bằng việc chi tiêu tiền bạc duy nhất cho những gì thực sự cần thiết để vận hành công việc kinh doanh.

Càng ít lựa chọn ít tốn kém bao nhiêu cho việc đạt được các mục tiêu then chốt sẽ càng tốt bấy nhiêu. Và các doanh nghiệp chỉ tăng các chi phí nếu doanh thu cho phép làm như vậy.

Sau khi trải qua giai đoạn trứng nước mới khởi sự và thấy rằng các nguyên tắc này quá chặt chẽ và có phần hạn chế kinh doanh tăng trưởng, doanh nghiệp có thể từ từ nới lỏng sợi dây thừng một chút và tận hưởng không khí tự do với khoản dự trữ tiền mặt lớn hơn.

2. Làm quá nhiều thứ vào quá sớm

Nếu một doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh chưa lâu nhưng đã nỗ lực thực hiện ngay nhiều dự án cùng một lúc, nguồn vốn hạn chế ban đầu sẽ giới hạn đáng kể thời gian và tiền bạc doanh nghiệp có thể bỏ ra cho từng dự án kinh doanh cụ thể.

Những ráng sức đó cần có sự quan tâm kỹ lưỡng và cần được nuôi dưỡng chậm chạp một cách thấu đáo nếu doanh nghiệp bạn muốn chúng được thành công. Khi doanh nghiệp cố thực hiện quá nhiều cam kết cùng lúc, tất cả sẽ kết thúc ở chỗ các dự án không thể thành công, đồng thời các chi phí bỏ ra và con số nợ nần sẽ chồng chất.

3. Không thiết kế cho khả năng mở rộng

Thành công ban đầu là rất quan trọng nhưng không tốt chút nào nếu doanh nghiệp dần bị xói mòn chính bởi sự thiếu khả năng hoạch định quy mô ban đầu lẫn những chuẩn bị kém cỏi.

Nếu thiết kế kinh doanh của doanh nghiệp không thể được mở rộng hơn khi đã trưởng thành, doanh nghiệp có thể bị buộc phải gánh chịu nhiều khoản chi phí phát sinh khi nỗ lực tái thiết kế kinh doanh.

4. Thất bại trong ủy thác

Các chủ doanh nghiệp cần nhớ rằng mình luôn là con người người của những sáng kiến. Đừng dùng quá nhiều thời gian cho những công việc có thể được thực hiện tốt bởi một người khác có mức thù lao thấp hơn.

Khi mà các chủ doanh nghiệp có thể cố gắng quản lý vi mô và gắn chặt con mắt vào từng khía cạnh của doanh nghiệp, bản thân họ không chỉ khiến mình phát điên vì sức ép công việc mà có thể kéo hoạt động kinh doanh vào rắc rối khi không thể quản lý tốt sức khoẻ tài chính chung.

5. Mua với số lượng lớn

Khi chưa là một doanh nghiệp lớn, việc lựa chọn mua một số lượng hàng hoá lớn phục vụ kế hoạch phát triển dài hạn hay dữ trự cho một thời gian dài là không thích hợp chút nào.

Doanh nghiệp bạn phải tính toán kỹ lưỡng các chi phí bỏ ra trong từng giai đoạn và sẽ cần một lượng tiền mặt nhất định luôn có sẵn tại ngân hàng. Hãy lên kế hoạch mua sắm những gì thực sự cần cho một thời gian nhất định và doanh nghiệp bạn sẽ có cơ hội tốt hơn để dự báo chính xác các cơn bão chi phí không ngờ tới.

6. Thanh toán chậm trễ các hóa đơn

Việc thanh toán chậm trễ hóa đơn sẽ dẫn tới nhiều bất lợi, không chỉ làm phát sinh các khoản nợ mà khoản nợ sẽ ngày một lớn hơn theo con số lãi suất chậm trả.

Bất cứ khi nào có thể, hãy thanh toán các hóa đơn đến hạn. Thẻ tín dụng nên được sử dụng tối đa khi mà nhiều ngân hàng cho phép một kỳ hạn nhất định không phải thanh toán lãi suất khi thanh toán tiền.

7. Quẳng các hóa đơn

Sẽ rất khó khăn cho nhiều chủ doanh nghiệp thấy được dòng tiền chi tiêu cũng như biết cách phân tách các chi phí kinh doanh với chi phí cá nhân nếu không lưu giữ đầy đủ mọi hóa đơn thanh toán.

Điều này có thể kết thúc với việc các khoản chi phí bị đội lên, cùng với đó là số thuế được khấu trừ cũng ít đi. Hãy lưu giữ cẩn thận mọi hóa đơn và doanh nghiệp bạn sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong tính thuế cũng như tính toán chi phí.

8. Thất bại trong việc truy đòi các khoản phải thu

Hãy chắc chắn rằng doanh nghiệp của bạn là một "người đàn ông rộng lượng" trong kinh doanh, nhưng cũng rất cần thiết với việc đảm bảo rằng doanh nghiệp được thanh toán các khoản phải thu đúng hạn.

Với khác nhiều công cụ có sẵn ngày nay cho việc thông báo khách hàng thanh toán tiền hàng đến hạn, không có lời bào chữa nào cho việc doanh nghiệp để các khoản phải thu chất chồng mà không truy đòi được.

Doanh nghiệp có thể trang bị nhiều phần mềm kế toán khác nhau giúp tự động gửi hoá đơn và nhắc nhở việc thanh toán các khoản phải thu đến hạn, và thậm chí tạo điều kiện để khách hàng thanh toán qua mạng internet trực tiếp tới tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Hỏi đáp về Thương mại điện tử


  1. Internet là gì?
  2. Các website thế hệ 1, 2, 3 và 4 là gì?
  3. Thương mại điện tử là gì và lợi ích của Thương mại điện tử ?
  4. Công ty có thể hưởng lợi từ thương mại điện tử như thế nào?
  5. Thương mại điện tử cho phép các công ty nhỏ cạnh tranh với các công ty lớn?
  6. Extranet site là gì?
  7. Internet ảnh hưởng đến phong cách làm việc như thế nào?
  8. Loại bỏ trung gian là gì?
  9. Thị trường và Marketing đám đông
  10. Những bất cập trên các phương tiện truyền thông hiện nay trên Internet?
  11. Các giao dịch và truyền thông Internet có an toàn ? 
  12. Các công ty có thực sự kinh doanh trên các site thương mại điện tử không?
  13. Có thể ngăn chặn các tin tặc không?
  14. Sản phẩm của bạn có thích hợp với thương mại điện tử không? 
  15. Dịch vụ của bạn có thích hợp với thương mại điện tử không?
  16. Các chiến lược thương mại điện tử đối với các dịch vụ dựa trên cơ sở sử dụng là gì? 
  17. Cân đối tài khoản trực tuyến là gì ?
  18. Khảo hàng trực tuyến có thích hợp với công ty không? 
  19. Những yếu tố cơ bản của dịch vụ khảo hàng trực tuyến là gì?
  20. Các khách hàng sẽ phản ứng như thế nào trước các dịch vụ thương mại điện tử của bạn? 
  21. Các nhà phân phối phản ứng thế nào đối với thương mại điện tử ?
  22. Site khảo hàng trực tuyến ảnh hưởng đến các đối tác như thế nào? 
  23. Cung ứng trực tuyến là gì và hoạt động như thế nào?
  24. Có thể phát triển các công cụ gì để hỗ trợ cho khách hàng, nhà phân phối và các đối tác?
  25. Cơ sở hạ tầng có hỗ trợ cho việc thực hiện và tăng trưởng của thương mại điện tử không?
  26. Công ty sẽ thay đổi khi tích hợp thương mại điện tử và chỉ đạo kinh doanh?
  27. Có cần phải trở thành một lập trình viên để tạo ra các văn bản web không?
  28. HTML hoạt động như thế nào? 
  29. Thiết kế các biểu mẫu như thế nào?
  30. Chương trình cổng mạng (gateway) nghĩa là gì?
  31. Khai thác mỏ dữ liệu là gì ?
  32. Công nghệ mã hoá hoạt động như thế nào?
  33. Cookie là gì?
  34. Các bước cần thiết để tạo ra một site mua hàng trực tuyến an toàn là gì? 
  35. Máy chủ an toàn là gì và tại sao lại cần nó ?
  36. Chứng nhận số là gì? 
  37. Phải thiết lập web site của mình như thế nào để chấp nhận các giao dịch thẻ tín dụng?
  38. Các hệ thống thanh toán điện tử khác với thẻ tín dụng?
  39. Shopping cart là gì và bạn có cần không?
  40. Cần phải tìm những gì trong một ứng dụng phần mềm bán hàng ? 
  41. Cần phải xác định các mục tiêu thương mại điện tử của mình như thế nào? 
  42. Xây dựng suất hoàn vốn đầu tư cho các dịch vụ thương mại điện tử như thế nào? 
  43. Có cần phái hoàn thành site của mình trước khi xuất bản không? 
  44. Cần phải cơ cấu nội dung trên site của mình như thế nào để hoàn thành doanh vụ? 
  45. Cần đưa gì vào site khảo hàng trực tuyến ?
  46. Thiết kế site như thế nào để hỗ trợ những người có các nhu cầu khác nhau? 
  47. Điều gì xảy ra nếu tích hợp site mua hàng online của mình với ứng dụng nội bộ công ty?
  48. Phải xây dựng một cơ sở hạ tầng nội bộ như thế nào để hỗ trợ thương mại điện tử ?
  49. Xây dựng một chính sách triển khai thương mại điện tử như thế nào?
  50. Cập nhật các chính sách hiện hành cho phù hợp với web như thế nào?
  51. Cần biết gì về việc bán hàng quốc tế ?
  52. Cần cài đặt site mua hàng trực tuyến ở đâu?
  53. Chọn ISP để cài đặt site như thế nào? 
  54. Lựa chọn là gì nếu không muốn tự cài đặt một site mà bạn có các nhu cầu đặc biệt? 
  55. Những nhiệm vụ cơ bản khi thiết lập một dịch vụ mua hàng trực tuyến là gì? 
  56. Quá trình cài đặt mua hàng trực tuyến trong công ty ?
  57. Tự cài đặt một site thương mại điện tử tốn kém như thế nào ?
  58. Chọn một nhà cung cấp chìa khoá trao tay như thế nào?
  59. Quá trình làm việc với một nhà cung cấp chìa khoá trao tay ? 
  60. Cần phải quản lý việc phát triển site thương mại điện tử của mình như thế nào? 
  61. Quản lý một site như thế nào sau khi đã được công bố ?
  62. Những hoạt động gì liên quan đến quản lý website ? 
  63. Một site thành công biểu hiện như thế nào?
  64. Các đồ họa cần được sử dụng như thế nào trên các web site? 
  65. Tạo một bản web hiệu quả như thế nào?
  66. Cần phải theo dõi những dữ liệu gì trên site? 
  67. Sử dụng điều tra để nhận được các dừ liệu về khách tham quan site như thế nào? 
  68. Tạo một portal hay một địa chỉ đến (destination location) như thế nào? 
  69. Quảng cáo một site thương mại điện tử trên Internet như thế nào ?
  70. Sử dụng khai thác mỏ dử liệu như thế nào để tăng hiệu quả site?
  71. Đăng ký site của mình với chương trình tìm kiếm như thế nào?
  72. Tạo các chương trình liên kết như thế nào?
  73. Sử dụng phương tiện truyền thông để thu hút lưu lượng đến site của mình như thế nào? 
  74. Tích hợp thương mại điện tử với các chương trình marketing hiện tại như thế nào? 

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Đề tài: Hệ thống thanh toán trực tuyến của ngân hàng


KHÁI QUÁT VỀ E-BANKING


Dịch vụ e-banking là dịch vụ ngân hàng điện tử ( ngân hàng qua Internet ), dịch vụ này đc phát triển ở Việt Nam từ cách đây khoảng 2,3 năm, dịch vụ này mang lại rất nhiều tiện lợi cho người sử dụng bạn có thể kiểm tra tài khoản của mình trực tuyến ko những thế bạn còn có thể dùng mobile làm vật tra cứu tài khoản của mình, khi đi mua hàng cũng sẽ rất tiện lợi, bạn có thể tham gia mua bán trực tuyến trên các site chấp nhận hình thức này.

Bạn không phải đến trực tiếp building hay gặp nhân viên nào của nhà băng. Bạn sẽ không còn lo bị phạt tiền vì quá hạn trả hóa đơn, không phải tốn quá nhiều thời gian để viết chi phiếu, dán tem, gửi thư qua bưu điện và chờ đợi ngân hàng gửi bảng kết toán hàng tháng …Đăng ký tài khoản - trên mạng. Gởi tiền - bằng mail hay trực tiếp và tài khoản. Rút tiền - trên mạng, là những lợi ích của việc sử dụng hình thức dịch vụ ngân hàng e-banking.

Bên cạnh đó, những công việc thông thường tốn nhiều thời gian xưa nay như trả hóa đơn tiền điện, khi đốt, tiền nước, tiền nhà, hoặc tiền thẻ tín dụng… thì nay chỉ cần khoảng từ 15 đến 30 phút đồng hồ. Khách hàng sử dụng dịch vụ e-banking có thể nhập vào máy tính các dữ liệu về số tiền, số tài khoản và ngày thanh toán là tiền sẽ được rút thẳng từ tài khoản của mình trả cho công ty nhận thanh toán.


E-Banking toàn cầu - Qua các thống kê


Internet Banking tại Mỹ Theo một nghiên cứu của Stegman chi phí tbình cho việc thực hiện một giao dịch ngân hàng bất kỳ theo kênh truyền thống qua quầy giao dịch tại Mỹ là 1.07 USD. Với việc áp dụng công nghệ, chi phí của một giao dịch tương tự thực hiện qua các kênh ngân hàng tự động động khác nhau lần lượt là: 0.04 USD đối với một giao dịch thực hiện qua trung tâm liên lạc khách hàng (call/contact center); 0.27 USD qua ATM; và 0.01 USD thông qua dịch vụ Internet Banking thực hiện trên một máy tính cá nhân bình
thường. Điều này hiển nhiên chứng tỏ rằng các giao dịch dựa trên công nghệ Internet đã trở nên kinh tế và hiệu quả cho ngành ngân hàng Mỹ trong việc giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ cho các khách hàng hiện tại và tiềm năng của ngân hàng ở phạm vi toàn cầu.

Internet Banking tại Anh và các nước châu Âu khác:


Phần lớn khách hàng tại Anh và châu Âu sử dụng Internet Banking để xem số dư tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, kiểm tra giao dịch hàng ngày, đối chiếu số dư. Sử dụng dịch vụ Internet Banking giúp các ngân hàng giảm chi phí hoạt động và thời gian làm việc của nhân viên tại các trung tâm liên lạc khách hàng (call center), các chi nhánh để trả lời khách hàng và thực hiện các giao dịch lặp đi lặp lại. Khách hàng cũng được hưởng lợi nhờ dịch vụ nhanh, chính xác, đảm bảo sự riêng tư, tiết kiệm thời gian đi lại…


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Tài liệu: Cơ sở hạ tầng của Thương mại điện tử


Thương mại điện tử hiểu một cách đơn giản chính là việc tiến hành các hoạt động thương mại bằng các  thương tiện điện tử có sử dụng đến các công cụ thanh toán điện tử trên môi trường Internet. Chính vì vậy để phát triển thương mại điện tử phải xây dựng và phát triển một cơ sở hạ tầng kỹ thuật hay chính là xây dựng “xương sống” cho thương mại điện tử. Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại điện tử bao gồm xây dựng và phát triển mạng Internet, công cụ thanh toán trực tuyến, đặc biệt quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng bảo mật trong thương mại điện tử. Ngoài ra đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới nhưng lại phát triển nhanh nên bên cạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý nhằm tạo hành lang cho phát triển thương mại điện tử.

Mục tiêu Sau khi học xong bài học, bạn sẽ nắm được: 

  • Cơ sở hạ tầng luật pháp: Bao gồm luật mẫu về thương mại điện tử UNCITRAL – đây là nguồn luật đầu tiên của tổ chức quốc tế và là nguồn luật mẫu cho xây dựng các nguồn luật của các quốc gia trên thế giới; Luật chữ ký điện tử và một số tập quán thương mại. 
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Internet, intranel, extranel, world wide web. 
  • Cơ sở hạ tầng thanh toán: Cơ sở hạ tầng thẻ thanh toán, các giải pháp thanh toán
  • Bảo mật trong thương mại điện tử


Nội dung:

  • Cơ sở hạ tầng pháp lý 
  • Luật về thương mại điện tử
  • Luật về chữ ký điện tử
  • Tập quán về thương mại điện tử
  • Quyền sở hữu trí tuệ
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 
  • Internet 
  • Intranet 
  • Extranet 
  • World wide web 
  • Cơ sở hạ tầng thanh toán 
  • Bảo mật trong thương mại điện tử



Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Tài liệu: Tổng quan về Thương mại điện tử


Công nghệ thông tin và truyền thông ngày càng phát triển và góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế, tạo ra lĩnh vực thương mại mới đó là thương mại điện tử. Nhờ sức mạnh của thông tin số hóa mà mọi hoạt động thương mại truyền thống ngày nay đã được tiến hành trực tuyến giúp các bên tham gia vào hoạt động này tiết kiệm được chi phí, thời gian, tăng hiệu suất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Mục tiêu:

  • Hiểu được khái niệm thương mại điện tử cả về nghĩa hẹp và nghĩa rộng. 
  • Nắm được các mô hình thương mại điện tử. 
  • Hiểu được những lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử. 
  • Hiểu được những tác động của thương mại điện tử tới người tiêu dùng, doanh nghiệp và môi trường xã hội.

Nội dung:

  • Khái niệm chung về thương mại điện tử. 
  • Lịch sử hình thành thương mại điện tử. 
  • Các khái niệm về thương mại điện tử. 
  • Đặc điểm, phân loại thương mại điện tử. 
  • Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử. 
  • • Ảnh hưởng của thương mại điện tử. 
  • • Thực trạng phát triển thương mại điện tử

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Thanh toán M&A cổ phiếu hay tiền mặt?


Việc lựa chọn hình thức thanh toán bị ảnh hưởng bởi kết quả phân tích định giá công ty mục tiêu và khả năng tạo ra giá trị kỳ vọng cho cổ đông của công ty hợp nhất.

Lựa chọn phương thức thanh toán rất quan trọng trong các giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A). Trong đó, các hình thức thanh toán phổ biến là bằng tiền mặt, hoán đổi cổ phiếu hoặc kết hợp cả 2. Vậy hình thức nào sẽ mang lại lợi ích cao nhất cho cổ đông?

Hoán đổi cổ phiếu sẽ phát triển


Thanh toán bằng tiền mặt là hình thức chủ yếu trong các giao dịch M&A tại Việt Nam trong những năm qua. Bởi lẽ, bên thâu tóm đa phần là các quỹ đầu tư tài chính mua một phần công ty mục tiêu, hoặc các công ty trong nước và nước ngoài có sẵn hoặc có khả năng huy động nguồn tiền mặt để mua một phần hoặc mua toàn bộ công ty mục tiêu. 

Trong khi đó, bên bán muốn tìm đối tác chiến lược hoặc thoái vốn thông qua bán một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp dưới hình thức thanh toán bằng tiền mặt. Hình thức trên giúp giao dịch M&A có thể nhanh chóng được hoàn tất, đặc biệt là giao dịch có cấu trúc đơn giản.

Tại các quốc gia phát triển, hoán đổi cổ phiếu, hoặc kết hợp giữa tiền mặt và cổ phiếu là phương thức giao dịch được ưa chuộng. Hình thức hoán đổi cổ phiếu được áp dụng trong các giao dịch M&A mà các bên muốn được chia sẻ lợi ích và rủi ro của việc hợp nhất, hoặc trong trường hợp 2 doanh nghiệp hợp nhất có quy mô tương đương.

Tại Việt Nam, giao dịch M&A thông qua hoán đổi cổ phiếu chỉ mới xuất hiện trong hơn 1 năm trở lại đây. Chẳng hạn, Công ty Xi măng Hà Tiên 1 phát hành một số cổ phiếu để đổi 100% lượng cổ phiếu đang lưu hành của Công ty Xi măng Hà Tiên 2 theo tỉ lệ 1:1. 

Hay Công ty Cổ phần Mirae Fiber (KMF) sáp nhập vào Công ty Cổ phần Mirae (KMR) theo hình thức KMR mua lại 100% vốn của KMF thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu với tỉ lệ chuyển đổi 1:1,35. 

Tuy nhiên, có thể thấy, các công ty trong 2 giao dịch trên đều là “người cùng một nhà” (có cùng cổ đông chi phối), nên việc chuyển đổi cổ phiếu cũng dễ dàng. Nếu không có yếu tố thuận lợi này, giao dịch M&A tại Việt Nam vẫn chủ yếu bằng tiền mặt.

Về mặt kỹ thuật, việc phát hành thêm cổ phiếu để chuyển đổi cũng như thực hiện các quy định pháp lý tại Việt Nam không phải là khó. Tuy nhiên, trên thực tế, việc hoán đổi cổ phiếu lại không dễ dàng vì nhiều lý do.

Thứ nhất là việc xác định tỉ lệ hoán đổi cổ phiếu dựa trên giá trị doanh nghiệp của mỗi bên trong giao dịch. Không dễ để chấp nhận giá của một doanh nghiệp khác và không đơn giản để thuyết phục đối tác về giá của doanh nghiệp mình đưa ra. 

Thứ 2 là sự khác biệt về chiến lược, quan điểm kinh doanh và văn hóa khi cả 2 bên cùng trở thành cổ đông của công ty hợp nhất. Khó khăn thứ 3 xuất phát từ hạn chế trong văn hóa hợp tác cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro khi hoán đổi cổ phiếu.

Chính khả năng thấp trong việc tháo gỡ các khó khăn khi hoán đổi cổ phiếu đã làm hạn chế số lượng giao dịch M&A thành công tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi nguồn vốn không cho phép thực hiện các giao dịch M&A bằng tiền mặt và đứng trước sức ép cạnh tranh trong và ngoài nước cùng với quá trình hợp nhất và phá sản trong một số ngành, hình thức hoán đổi cổ phiếu sẽ là lựa chọn khả thi tại Việt Nam trong thời gian tới.

Chia sẻ rủi ro và lợi ích trong M&A



Tiến hành M&A là một quyết định rủi ro, đặc biệt đối với bên thâu tóm. Khi thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt, trong trường hợp mua toàn bộ công ty, bên bị thâu tóm không còn là cổ đông của công ty hợp nhất; còn bên thâu tóm sẽ hưởng toàn bộ lợi ích cũng như rủi ro trong quá trình hợp nhất.


Trong khi đó, với hình thức hoán đổi cổ phiếu, cổ đông của bên bị thâu tóm trở thành cổ đông của công ty hợp nhất. Như vậy, mọi lợi ích cũng như rủi ro sẽ được chia sẻ giữa cổ đông của 2 công ty.


Việc lựa chọn hình thức thanh toán bị ảnh hưởng bởi kết quả phân tích về việc định giá công ty mục tiêu và khả năng tạo ra giá trị kỳ vọng cho cổ đông của công ty hợp nhất.


Trong trường hợp công ty mục tiêu được xem là đang được định giá cao hơn so với mức giá hợp lý hoặc bên thâu tóm nghi ngờ về khả năng thành công của công ty hợp nhất thì bên thâu tóm có xu hướng muốn thực hiện chuyển đổi cổ phiếu để chia sẻ rủi ro với bên bị thâu tóm. 

Trong trường hợp ngược lại, bên thâu tóm sẽ muốn thanh toán cho bên bị thâu tóm bằng tiền mặt. Hơn nữa, việc có sẵn nguồn tiền để thực hiện M&A là rất khó, đặc biệt trong bối cảnh huy động vốn không dễ.


Ngoài chia sẻ rủi ro, bảo đảm cấu trúc tài chính tối ưu cũng là lý do doanh nghiệp cân nhắc lựa chọn hình thức thanh toán. Nếu chọn thanh toán bằng tiền mặt, liệu bên thâu tóm có thể huy động được một lượng vốn lớn cho thương vụ M&A? Sau khi huy động được nguồn vốn này, rủi ro mới cũng phát sinh. Bởi lẽ, với tỉ lệ vốn vay trên vốn sở hữu lớn hơn, liệu công ty hợp nhất còn có thể huy động vốn cho các dự án tiếp theo?


Đối với các công ty không có nguồn tiền mặt, việc vay vốn để tài trợ cho giao dịch M&A không những làm giảm khả năng huy động vốn mà còn gia tăng nguy cơ phá sản hoặc phải cấu trúc lại công ty.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Chiến lược Marketing điện tử - OSB


Marketing?


“đã là một công ty kinh doanh thì phải chú trọng tới khách hàng, hướng tới nhu cầu của khách hàng trước khi đề cập tới sản phẩm của mình, cho dù trong thời đại công nghệ thông tin hay các thời đại khác.”

Jeff Bezos - Đương kim chủ tịch của một trong những công ty kinh doanh qua mạng hàng đầu thế giới Amazon.com với doanh số trung bình 4 tỷ USD/năm.

Marketing điện tử là gì?


Quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân - dựa trên các phương tiện điện tử và Internet. (Phillip Kotler).

Marketing điện tử bao gồm tất cả các hoạt động để thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng thông qua internet và các phương tiện điện tử (Nguồn: Joel Reedy, Shauna Schullo, Kenneth Zimmerman, 2000)

Về cơ bản, marketing điện tử được hiểu là các hoạt động marketing được tiến hành qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Trong đó, phương tiện điện tử có thể là máy tính, mobile, PDA… còn mạng viễn thông có thể là internet, mạng thông tin di động…

Tải tài liệu: Chiến lược Marketing điện tử - OSB

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Tiểu luận: Giải pháp thanh toán mới cho cinema qua mobile


Với dân số khoảng 86 triệu người, cả nước chỉ có khoảng 10 hệ thống rạp đạt yêu cầu về tiêu chuẩn rạp hiếu phim quốc tế, đa phần là tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM. Các doanh nghiệp trên thị rường hiện đang tự điều tiết với số lượng khoảng trên 100 phim mỗi năm.

Thị trường hiện nay đang được bốn đại gia lớn chia nhau: Galaxy, Megastar, BHD và Lotte.

2005 - 2010, tổng doanh thu vé từ 1,2 - 25 triệu USD. Doanh thu Megastar trên toàn quốc trong năm 2008 đạt 7 triệu Đô la Mỹ.

Doanh thu mùa phim Tết 2011 đạt tăng trưởng gần gấp đôi, trên 40 tỷ đồng của năm 2010 lên gần 70 tỷ đồng trong năm nay.

Giá vé trung bình từ 50.000 - 80.000. Giá vé xem phim cao nhất đang thuộc về các cụm rạp của MegaStar với 80.000 đồng/vé, còn các cụm rạp khác của Galaxy, BHD, Lotte Cinema “đỉnh nhất” chỉ 70.000 đồng..


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử


Trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, đầu tư và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là một trong những biện pháp gia tăng vị thế cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại Việt Nam trên thị trường. 

Với mong muốn đem lại sự hài lòng cho khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng, đề tài đã đi vào nghiên cứu chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng về nó và đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

Căn cứ vào những đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử và hai mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVPERF và GRONROOS được ứng dụng trong và ngoài nước, một mô hình đo lường chất lượng dịch vụ với các biến nghiên cứu chính được thiết lập cùng với các giả thuyết nghiên cứu nhằm đánh giá các thành phần chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử với khách hàng cá nhân thông qua sự hài lòng của khách hàng tại VietinBank Đà Nẵng.

Mô hình SERVPERF được xây dựng dựa trên mô hình SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1988). Đây là một dụng cụ đo lường chất lượng dịch vụ tin cậy và chính xác (Parasuraman và cộng sự, 1988; 1991; 1993) và mô hình đã được sử dụng rộng rãi (Buttlr 1996; Robinson, 1999) nhưng nó loại bỏ phần đánh giá về sự mong đợi và chỉ giữ lại phần đánh giá về sự cảm nhận của khách hàng.

- Trong khi sự cảm nhận có thể định nghĩa và đo lường một cách dễ dàng dựa trên niềm tin của khách hàng về những dịch vụ họ đã sử dụng, sự mong đợi có thể được hiểu theo nhiều cách và vì vậy, có thể được giải thích khác nhau đối với những tác giả và những nhà nghiên cứu khác nhau (Dasholkar và cộng sự, 2000; Babakus và Boller, 1992; Teas, 1993).

- Người được hỏi tỏ ra bối rối khi trả lời câu hỏi hai lần trên phiên bản kỳ vọng và cảm nhân của SERVQUAL (Bouman và Van der Wiele, 1992).Do đó, đo lường sự mong đợi của khách hàng là rất khó khăn.

- Các bằng chứng thực nghiệm của Cronin và Taylor (1992) và Quester và Romaniuk (1997) khi thực hiện các nghiên cứu so sánh giữa mô hình SERVQUAL và SERVPERF đều cho thấy SERVPERF tốt hơn SERVQUAL.Ngoài mô hình SERVQUAL và SERVPERF, mô hình GRONROOS là mô hình đo lường chất lượng dịch vụ cũng được xem là khá phổ biến (Arona & Stoner, 1996).

- Mô hình này mặc dù chưa được kiểm định rộng rãi như mô hình SERVQUAL, nhưng nó đã có được một số nghiên cứu thực tế như đo lường chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc (Baker & Lamb, 1993), kế toán (Higgins & Ferguson, 1991), dịch vụ giao bánh pizza (Allaway, 1993) (trích từ Lassar & ctg, 2000), dịch vụ ngân hàng (Lassar & ctg, 2000), dịch vụ thư viện (Trần Xuân Thu Hương, 2007), v.v…

Ngoài ra mô hình này đã từng được sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam (Nguyễn Thị Phương Trâm, Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: So sánh giữa mô hình SERQUAL và mô hình GRONROOS, 2008).

- Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử khá cụ thể khi đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên: những gì được phục vụ, ví dụ như hệ thống máy vi tính hóa các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và chúng được phục vụ như thế nào, ví dụ: thái độ, hành vi của nhân viên đối với khách hàng, …


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Facebook thử nghiệm thanh toán trực tuyến trên di động


Facebook đang lên kế hoạch thử nghiệm tính năng thanh toán trực tuyến trên di động thông qua ứng dụng Facebook vào tháng tới. Tuy nhiên, đây hoàn toàn không phải là động thái tham gia thị trường thanh toán trực tuyến của mạng xã hội lớn nhất thế giới.