Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh toán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt


Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó quy định mở tài khoản thanh toán cá nhân; tạm khóa, đóng tài khoản thanh toán.

Đối tượng áp dụng Nghị định này là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ trung gian thanh toán (người sử dụng dịch vụ).

Nghị định nêu rõ, người mở tài khoản thanh toán là cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng. Đối với người chưa thành niên khi mở tài khoản thanh toán phải có người giám hộ theo quy định của pháp luật .  

 Tài khoản thanh toán chung là tài khoản thanh toán có ít nhất hai chủ thể trở lên cùng đứng tên mở tài khoản. Chủ tài khoản thanh toán chung là tổ chức hoặc cá nhân. Mục đích sử dụng tài khoản thanh toán chung, quyền và nghĩa vụ của các chủ tài khoản thanh toán chung và các quy định liên quan đến việc sử dụng tài khoản chung phải được xác định rõ bằng văn bản.

Chủ tài khoản được sử dụng tài khoản thanh toán để nộp, rút tiền mặt và yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thực hiện các giao dịch thanh toán hợp lệ. Đồng thời, chủ tài khoản có quyền yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung cấp thông tin về giao dịch và số dư trên tài khoản thanh toán.

Chủ tài khoản có thể ủy quyền có thời hạn bằng văn bản cho người khác sử dụng tài khoản thanh toán theo quy định của pháp luật.

Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có quyền từ chối thực hiện lệnh thanh toán không hợp lệ của chủ tài khoản, hoặc khi trên tài khoản thanh toán không đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp từ chối, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải thông báo ngay lý do cho chủ tài khoản.

4 trường hợp tài khoản thanh toán bị phong tỏa

Tài khoản thanh toán được tạm khóa (tạm dừng giao dịch) một phần hoặc toàn bộ số tiền trên tài khoản khi chủ tài khoản yêu cầu hoặc theo thỏa thuận trước giữa chủ tài khoản và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Tài khoản thanh toán bị phong tỏa một phần hoặc toàn bộ số tiền trên tài khoản trong 4 trường hợp: 1- Khi có quyết định hoặc yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; 2- Khi tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát hiện có nhầm lẫn, sai sót về chuyển tiền; 3- Khi tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phát hiện có dấu hiệu gian lận, vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động thanh toán; 4- Khi có tranh chấp giữa các chủ tài khoản thanh toán chung.

Việc đóng tài khoản thanh toán được thực hiện khi: Chủ tài khoản có yêu cầu và đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến tài khoản thanh toán; chủ tài khoản là cá nhân bị chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức có tài khoản thanh toán chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật; chủ tài khoản vi phạm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;...

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/3/2013.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Sử dụng dịch vụ bao thanh toán các vấn đề tài chính kế toán


Bao thanh toán là một công cụ tài chính nhằn huy động vốn và giảm thiểu rủi ro trong quá tình thanh toán cho các doanh nghiệp. Bao thanh toán được sử dụng rộng rãi trên thế giới nhưng vẫn là một khái hiệm tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Nghiên cứu về bao thanh toán dưới các góc độ tài chính và kế toán sẽ giúp các doanh nghiệp có thể sử dụng công cụ này một cách có hiệu quả. Tiếp theo bài “Kế toán quan hệ bao thanh toán” của tác giả Ngô Hà Trung (Tạp chí Kế toán số tháng 12/2006), bài viết này muốn phân tích sâu hơn về dịch vụ bao thanh toán.

Bao thanh toán là gì?

Bao thanh toán (factoring) là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp giữa việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công nợ và thu hồi nợ. Dịch vụ bao thanh toán được thoả thuận giữa đơn vị bao thanh toán (factor) với đơn vị bán hàng. Đơn vị bao thanh toán thường là các ngân hàng, tổ chức tài chính hoặc các công ty bảo hiểm. Đơn vị bao thanh toán sẽ đại diện cho đơn vị bán hàng thực hiện các nghiệp vụ theo dõi công nợ và thu hồi nợ, đồng thời dựa trên tổng số nợ phải thu hồi, đơn vị bao thanh toán sẽ cung cấp vốn cho đơn vị bán hàng trước thời hạn thu hồi nợ. Ngược lại đơn vị bán hàng sẽ phải trả cho đơn vị bao thanh toán một khoản phí dịch vụ cũng như lãi tín dụng cho khoản tiền ứng trước. 

Có hai hình thức bao thanh toán: bao thanh toán có quyền truy đòi (recourse factoring) và bao thanh toán không có quyền truy đòi (non-recourse factoring). Bao thanh toán có quyền truy đòi là hình thức bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho đơn vị bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ. Nói cách khác, đơn vị bán hàng vẫn phải gánh chịu rủi ro về nợ khó đòi. Bao thanh toán không có quyền truy đòi là hình thức bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán không có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho đơn vị bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ. Nói cách khác, đơn vị bán hàng không phải gánh chịu rủi ro về nợ khó đòi mà đơn vị bao thanh toán phải gánh chịu toàn bộ rủi ro đó. 

Dịch vụ Bao thanh toán trên thế giới và ở Việt Nam

Dịch vụ bao thanh toán được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Hiệp hội bao thanh toán quốc tế ( Factoring Chain International - FCI) được thành lập từ năm 1968, có trụ sở ở Amsterdam – Hà Lan. Hiện nay FCI có 216 thành viên ở 62 quốc gia trên thế giới. Dịch vụ bao thanh toán trên thế giới rất sôi động đối với cả hai mảng bao thanh toán nội địa và bao thanh toán quốc tế. Tổng doanh thu của FCI năm 2005 là 1.016.547 triệu euro. 

Ở Việt Nam, ngày 06/9/2004 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN về việc ban hành Qui chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng. Tháng 4/2005 dịch vụ bao thanh toán đã chính thức xuất hiện ở thị trường Việt Nam. Đến nay đã có 11 đơn vị cung cấp dịch vụ này, trong đó 4 ngân hàng Việt Nam bao gồm ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu, ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương là thành viên của FCI. Dịch vụ bao thanh toán ở Việt Nam còn rất khiêm tốn, doanh thu năm 2005 chỉ là 2 triệu euro, một con số vô cùng nhỏ nhoi trong tổng doanh thu của FCI trên toàn thế giới. Hơn nữa doanh thu dịch vụ bao thanh toán ở Việt Nam chỉ là doanh thu bao thanh toán nội địa. Thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều chưa biết đến loại dịch vụ này, trong khi dịch vụ này đặc biệt quan trọng đối với các nhà xuất khẩu. Nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu sẽ có nhiều rủi ro hơn so với kinh doanh nội địa, đặc biệt là vấn đề thanh toán. Nếu các nhà xuất khẩu yêu cầu các nhà nhập khẩu phải mở L/C thì có thể sẽ mất các hợp đồng xuất khẩu đối với các nhà nhập khẩu lớn vì họ sẽ thường chỉ chấp nhận hình thức trả sau. Sử dụng dịch vụ bao thanh toán xuất khẩu sẽ giúp các nhà xuất khẩu thực hiện được các loại hợp đồng này và chuyển nhượng được rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thanh toán khi bán hàng ra nước ngoài.

Thị trường dịch vụ bao thanh toán ở Việt Nam còn nghèo nàn như vậy là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ngoài các nguyên nhân khách quan là dịch vụ bao thanh toán còn quá mới mẻ ở Việt Nam nên chưa được các doanh nghiệp biết đến và những khó khăn gặp phải khi giao dịch với đơn vị bao thanh toán, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các doanh nghiệp vẫn chưa hiểu rõ về dịch vụ bao thanh toán. Các doanh nghiệp còn chưa rõ về các lợi ích và chi phí phát sinh khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán, chưa biết cần tìm hiểu và phân tích những thông tin gì trước khi ra quyết định có nên sử dụng dịch vụ này hay không. 

Lợi ích khi sử dụng bao thanh toán

Do đơn vị bao thanh toán cung cấp tiền cho đơn vị bán hàng trước thời hạn thu hồi nợ (có thể lên tới 85% tổng nợ phải thu), đơn vị bán hàng sẽ cải thiện được đáng kể dòng tiền lưu chuyển, từ đó có tác động tích cực đến rất nhiều các vấn đề tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Đơn vị có thể thanh toán cho nhà cung cấp của mình đúng thời hạn hơn và có thể được hưởng các khoản chiết khấu thanh toán từ các nhà cung cấp. Bên cạnh đó, do có đủ tiền để thanh toán cho số hàng mình cần, đơn vị bán hàng có thể duy trì được mức hàng hoá, vật tư dự trữ hợp lý nhất, tránh tình trạng “cháy kho”.

Một ích lợi quan trọng khác mà dịch vụ bao thanh toán mang lại cho các đơn vị bán hàng là nó đem lại nguồn lực tài chính tài trợ cho nhu cầu phát triển của đơn vị. Có rất nhiều trường hợp các doanh nghiệp tăng trưởng quá nhanh nhưng không cân đối được năng lực tài chính, dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán nghiêm trọng, mặc dù các đơn vị này bán được rất nhiều hàng, lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh lớn nhưng không có tiền để quay vòng vốn kinh doanh do bị ứ đọng vốn quá lớn trong nợ phải thu của khách hàng. Dịch vụ bao thanh toán giúp các đơn vị bán chuyển đổi nhanh chóng các khoản nợ phải thu ở khách hàng thành tiền mặt nên các đơn vị bán có thể yên tâm tài trợ vốn cho sự tăng trưởng của mình thông qua việc bán hàng mà không cần đến các nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài. Dịch vụ bao thanh toán giúp các đơn vị bán hàng có được sự kết nối chặt chẽ giữa vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh với khối lượng sản phẩm đầu ra tiêu thụ được. Đơn vị càng tiêu thụ được nhiều hàng thì sẽ được tài trợ càng nhiều vốn để quay vòng hoạt động kinh doanh từ các đơn vi bao thanh toán. Ngược lại, không có dịch vụ bao thanh toán, nếu 
đơn vị bán cần đi vay ngắn hạn ngân hàng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của mình, thì yếu tố quyết định tới mức vốn được vay không phải là mức tiêu thụ đầu ra mà là việc phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn thể hiện trên bảng cân đối kế toán cuối kỳ trước của đơn vị.

Một lý do quan trọng nữa khiến các đơn vị bán hàng nên sử dụng dịch vụ bao thanh toán là các nhà quản lý sẽ không phải dành thời gian và công sức cho các khoản nợ chậm thanh toán. Việc quản lý, theo dõi và thực hiện các thủ tục thu hồi nợ sẽ do đơn vị bao thanh toán đảm nhiệm. Các nhà quản lý sẽ có thêm thời gian dành cho các công việc khác quan trọng hơn và thực sự cần đến trí tuệ của họ. Bên cạnh đó, các đơn vị sử dụng dịch vụ bao thanh toán không những sẽ không phải gánh chịu các chi phí vận hành hệ thống theo dõi tiền hàng bán chịu mà còn được cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp hơn và hiệu quả hơn từ các đơn vị bao thanh toán.

Tuy nhiên, một nhược điểm quan trọng của dịch vụ bao thanh toán là khách hàng sẽ thanh toán trực tiếp cho đơn vị bao thanh toán chứ không phải cho đơn vị bán hàng, nên có thể tạo ra một hình ảnh không tốt về thái độ đối với khách hàng của đơn vị bán hàng. Sử dụng dịch vụ bao thanh toán cũng có thể ngụ ý rằng đơn vị bán hàng đang cần tiền mặt một cách nhanh chóng và do đó có thể đặt dấu hỏi về sự ổn định tài chính của đơn vị bán hàng.


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan trưc tuyến

Luận văn Hệ thống giao dịch thanh toán di động bảo đảm


Thương mại điện tử với lượng hàng hoá lớn đòi hỏi những giao thức và hệ thống đặc biệt. Hiện nay đã có nhiều hệ thống và giao thức để xử lý các bước trong thương mại điện tử như chọn hàng, đặt hàng, thanh toán và hậu cần. Hiện nay các hệ thống thanh toán được sử dụng đều có những hạn chế về tính hữu dụng và bảo mật. Gần đây chúng ta đã có những cơ sở vật chất tốt về mạng không dây, đây sẽ là một môi trường tốt để xây dựng một hệ thống thanh toán điện tử hiện đại.

Mục tiêu của luận văn này là khảo cứu một hệ thống cho phép người sử dụng thực hiện các giao dịch thanh toán thông qua điện thoại di động.

Hệ thống (gọi tắt của Hệ thống Thanh toán Di động) sẽ hoạt động dựa trên WAP thông qua thiết bị di động không dây, dùng thiết bị di động với các tính năng tiêu chuẩn để tạo chữ ký điện tử. Đây là một phương thức thanh toán, với việc hệ thống hỗ trợ tính năng tạo chữ ký điện tử do người thanh toán uỷ quyền, và tiền được chuyển là tiền trong tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Cần lưu ý rằng hệ thống này không tạo ra tiền điện tử, nó là một hệ thống ứng dụng tính năng uỷ quyền trên mạng đảm bảo tính bảo mật vào thanh toán điện tử di động tronh kinh doanh.

Các hệ thống thanh toán di động được định hướng hoạt động là sẽ tương tác với các thiết bị đầu cuối sử dụng WAP, các tổ chức cấp phép, các hệ thống thương mại điện tử, các thiết bị đầu cuối tại điểm bán hàng cũng như các hệ thống kế toán và xuất hóa đơn. Việc giao tiếp với các đầu mối kể trên sẽ được thực hiện thông qua cả thiết bị di động và cố định.

Luận văn này tập trung vào các hệ thống dành cho các lớp ứng dụng, đó là tầng 7 của mô hình ISO-OSI [16]. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là giới thiệu và triển khai một Hệ thống Thanh toán Điện tử với giao diện cụ thể dành cho hệ thống ngoại vi đề cập ở trên. Trong luận văn này sẽ giới thiệu một hệ thống thương mại thử nghiệm, trong đó sử dụng Hệ thống Thanh toán Điện tử để kiểm nghiệm và chứng minh các kết quả nghiên cứu.

Hệ thống Thanh toán Điện tử gắn liền với khung tiêu chuẩn do Diễn đàn WAP ITU-T, IETF, RSA Laboratories, Viện Quốc gia Tiêu chuẩn và Công nghệ và MeT initiative đặt ra. Các tiêu chuẩn đặt ra bởi RSA Laboratories, ITU-T và FIPS chính là nền tảng cho các giải pháp bảo mật thông tin trong hệ thống. Diễn đàn WAP và MeT initiative đã tìm ra các biện pháp để áp dụng các tiêu chuẩn vào Internet di động nói chung và WAP nói riêng. IETF RFCs đưa ra các cơ sở để phân phối các ứng dụng mạng.

Hành lang pháp lý liên quan đến các hệ thống thanh toán, vận hành hệ thống thanh toán, chữ ký và xác nhận qua điện tử đang phát triển rất nhanh. Ngày càng có nhiều các quy định mới và cách giải thích mới về các vấn đề trên.

Tải luận văn: Hệ thống giao dịch thanh toán di động bảo đảm

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan trưc tuyến

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Bài giảng cán cân thanh toán quốc tế


Cán cân thanh toán quốc tế là:


  • Là bảng cân đối, so sánh và đối chiếu giữa các khoản tiền thu được từ ở nước ngoài với các khoản tiền phải chi trả cho nước ngoài 
  • Là một biểu tổng hợp phản ánh tất cả các giao dịch dưới hình thức tiền tệ của một nước với các nước khác 
  • Là một bản báo cáo thống kê ghi chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa những người cư trú với người không cư trú (IMF).

Phân loại cán cân thanh toán quốc tế
  • Cán cân thời điểm khác với cán cân thời kỳ
  • Cán cân song phương khác với cán cân đa phương
  • Cán cân chi trả và cán cân thu chi
Vai trò của cán cân thanh toán quốc tế

Ở tầm quản lý kinh tế vĩ mô:
  • Chính sách đối ngoại nói chung và chính sách thương mại quốc tế nói riêng 
  • Kiểm soát sự di chuyển của các luồng vốn: Đầu tư nước ngoài và xuất khẩu vốn
  • Điều hành chính sách tỷ giá
Ở tầm vi mô:
  • Cung cầu ngoại tệ và dự đoán sự biến động tỷ giá
  • Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
  • Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 
Tải bài giảng: cán cân thanh toán quốc tế

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Đề tài: Phương thức thanh toán nhờ thu


Nhờ thu là phương thức thanh toán được sử dụng khá phổ biến trong hoạt động thanh toán TM quốc tế. Nhằm tạo điều kiện cho việc vận dụng một cách thống nhất phương thức thanh toán này trên phạm vi quốc tế, đồng thời có căn cứ pháp lý quốc tế cần thiết, để xử lý các vấn đề tranh chấp khi xảy ra, phòng TM quốc tế ICC đã soạn thảo và công bố văn bản “ Các quy tắc thống nhất về nhờ thu ” ( Uniform Rules for Collections – URC )

Ân phẩm URC đầu tiên được công bố và phát hành rộng rãi và có hiệu lực năm 1979  với tên gọi URC 1979 Revision – ICC Publication No.322

Đến năm 1995 được sửa đổi và chính thức có hiệu lực năm 1996.

Nội dung của bản thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu, bao gồm 7 mục với 26 điều.

Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó người XK, sau khi hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ cho người NK, lập bộ chứng từ thanh toán, kèm theo thư uỷ nhiệm, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người NK hoặc yêu cầu họ ký chấp nhận trả tiền hối phiếu khi đến thời hạn, trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán do mình lập ra.

Các bên tham gia giao dịch thanh toán:

Ngưới có yêu cầu nhờ thu (Principal): là người uỷ thác ngân hàng phục vụ mình thu hộ ở người phải trả,là người XK hay cung ứng dịch vụ,là người thực hiện hành vi giao chứng từ và chỉ thị cho ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu tiền.

Ngân hàng chuyển giao ( Remitting Bank ): là ngân hàng được người có nhu cầu nhờ thu giao chỉ thị nhờ thu và các chứng từ cần thiêt để nhờ thu hộ tiền ở người mua.

Người trả tiền ( Drawee ): là đối tượng mà ngân hàng xuất trình chứng từ tới để đòi tiền hoặc yêu cầu ký chấp nhận trả tiền trên hối phiếu.

Ngân hàng thu hộ (Collecting Bank): là bất kỳ ngân hàng nào ngoại trừ ngân hàng chuyển giao,tham gia thực hiện quá trình nhờ thu.

Ngân hàng xuất trình ( Presenting Bank ): trong trường hợp người phải trả tiền nhờ thu không có quan hệ tài khoản trực tiếp với ngân hàng Thu hộ, thì ngân hàng Thu hộ sẽ chuyển chứng từ nhờ thu tới một ngân hàng khác có quan hệ trực tiếp với người mua, yêu cầu thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu kỳ hạn.

Tải đề tài định dạng PPT: Phương thức thanh toán nhờ thu

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Thủ tục thanh toán bằng l/c nhập khẩu


Thủ tục thanh toán bằng L/C nhập khẩu

1. Yêu cầu mở L/C

a) Nguồn vốn để đảm bảo thanh toán L/C

Khi quy định điều khoản thanh toán bằng L/C trong hợp đồng, khách hàng cần xem xét nguồn vốn để thanh toán cho L/C mà mình sẽ yêu cầu NHCTVN mở:

- L/C phát hành bằng vốn tự có, khách hàng phải ký quỹ 100%
- L/C phát hành bằng vốn tự có, khách hàng không ký quỹ đủ 100% và/hoặc có yêu cầu miễn, giảm mức ký quỹ, đề nghị Quý khách liên hệ với bộ phận Tín dụng thẩm định nghiên cứu xem xét và được Giám đốc hoặc người được Giám đốc uỷ quyền phê duyệt trước khi chuyển sang phòng TTQT thực hiện.
- L/C phát hành bằng vốn vay của NHCTVN: Quý khách liên hệ với bộ phận Tín dụng thẩm định để xem xét.

b) Yêu cầu mở L/C

Khách hàng điền đầy đủ thông tin vào Đơn yêu cầu mở L/C. Vì ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu, do vậy Quý khách nên xem xét kỹ nội dung hợp đồng để đảm bảo khi đưa vào L/C không bị mâu thuẫn.

c) Hồ sơ xin mở L/C của khách hàng bao gồm

- Đơn yêu cầu mở L/C
- Quyết định thành lập doanh nghiệp (đối với các doanh nghiệp giao dịch lần đầu)
- Đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp giao dịch lần đầu)
- Đăng ký mã số xuất nhập khẩu - nếu có (đối với doanh nghiệp giao dịch lần đầu)
- Hợp đồng ngoại thương gốc (trường hợp ký hợp đồng qua FAX thì đơn vị phải ký và đóng dấu trên bản phôtô).
- Hợp đồng nhập khẩu uỷ thác (nếu có)
- Giấy phép nhập khẩu của Bộ Thương Mại (nếu mặt hàng nhập khẩu thuộc Danh mục quản lý quy định tại Quyết định điều hành xuất nhập khẩu hàng năm của Thủ tướng Chính Phủ).
- Cam kết Thanh toán, Hợp đồng Tín dụng (trường hợp vay vốn), công văn phê duyệt cho mở L/C trả chậm của NHCTVN (trường hợp mở L/C trả chậm).
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ (nếu có)
- Bản giải trình mở L/C do phòng Tín dụng của Chi nhánh lập được Giám đốc chi nhánh hoặc người được Giám đốc uỷ quyền phê duyệt (trường hợp ký quỹ dưới 100% trị giá L/C).

Tất cả các chứng từ trên đều phải xuất trình bản gốc và lưu lại Chi nhánh bản phôtô có đóng dấu treo của doanh nghiệp. Riêng các chứng từ sau sẽ phải lưu bản gốc:

- Cam kết thanh toán
- Hợp đồng vay vốn
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ
- Đơn xin mở L/C của khách hàng
- Bản giải trình mở L/C

2. Kiểm tra nội dung L/C

Sau khi NHCTVN phát hành L/C, Quý khách sẽ nhận được một bản sao L/C đó. Quý khách nên xem xét đối chiếu giữa nội dung L/C với đơn yêu cầu của Quý khách để đảm bảo rằng L/C hoàn toàn phù hợp với hợp đồng và với yêu cầu của Quý khách. Nếu có bất kỳ một sự sai lệch nào, Quý khách nên thông báo ngay cho NHCTVN để có điều chỉnh, sửa đổi.

3. Sửa đổi L/C

Nếu Quý khách có nhu cầu sửa đổi L/C, đề nghị Quý khách xuất trình Đơn đề nghị sửa đổi L/C kèm văn bản thoả thuận giữa người mua và người bán (nếu có).
Trường hợp L/C sửa đổi tăng tiền, Quý khách phải bổ sung mức ký quỹ và tài sản thế chấp tương ứng để đảm bảo khả năng thanh toán cho L/C đó.

4. Nhận và kiểm tra chứng từ

Sau khi nhận bộ chứng từ giao hàng từ phía ngân hàng, khách hàng cần kiểm tra đối chiếu giữa nội dung L/C với các chứng từ nhận được. Trường hợp Khách hàng nhận được thông báo sai sót chứng từ của ngân hàng, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báo, Quý khách phải báo ngay quyết định của mình hoặc chấp nhận sai sót và thanh toán L/C hoặc không chấp nhận sai sót ngay trên bản thông báo và gửi trả lại Ngân hàng.

Nếu sau 5 ngày, Quý khách không có ý kiến thì coi như khách hàng từ chối chứng từ, Ngân hàng tiến hành xử lý bộ chứng từ theo chỉ thị của Ngân hàng gửi chứng từ.

5. Yêu cầu phát hành bảo lãnh/ Uỷ quyền nhận hàng theo L/C

NHCTVN thực hiện phát hành bảo lãnh nhận hàng khi chưa có vận đơn gốc hoặc phát hành thư uỷ quyền nhận hàng hoặc ký hậu vận đơn để Quý khách có thể nhận hàng theo L/C.

Điều kiện để NHCT phát hành Thư bảo lãnh – Thư uỷ quyền nhận hàng, ký hậu vận đơn gốc

Quý khách cần ký quỹ 100% trị giá hoá đơn, hoặc uỷ quyền cho NHCT khoanh số tiền tương ứng trên tài khoản tiền gửi hoặc ghi nợ tài khoản tiền vay khi thanh toán và tuỳ từng trường hợp, khách hàng cần xuất trình các giấy tờ sau:


-Phát hành Thư bảo lãnh nhận hàng: khách hàng phải có Thư yêu cầu phát hành bảo lãnh kèm một bản sao vận đơn đường biển hoặc vận đơn hàng không và 01 bản sao hoá đơn do người xuất khẩu gửi trực tiếp.
-Phát hành Thư uỷ quyền nhận hàng: khách hàng phải có Thư yêu cầu phát hành Uỷ quyền nhận hàng kèm 01 bản gốc vận đơn hàng không ghi người nhận hàng là NHCT kèm 01 bản sao hoá đơn.
-Ký hậu vận đơn đường biển: khách hàng phải có Thư yêu cầu ký hậu vận đơn kèm 01 bản gốc vận đơn đường biển và 01 bản sao hoá đơn.

Trong trường hợp ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh cho Khách hàng nhận hàng khi chưa có vận đơn, khách hàng phải xuất trình ngân hàng văn bản chấp nhận thanh toán vô điều kiện kể cả trong trường hợp bộ chứng từ có sai sót.

6. Thanh toán L/C

NHCT sẽ trích tiền từ tài khoản đã được chỉ định của Qúy khách hàng để thanh toán cho Ngân hàng nước ngoài theo quy định của L/C khi nhận được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều khoản của L/C.

7. Huỷ bỏ L/C

Nếu Quý khách có yêu cầu huỷ L/C cần lưu ý, NHCT không chấp nhận huỷ L/C trong trường hợp:

a) Khách hàng đã nhận hàng thông qua bảo lãnh nhận hàng của NHCT.
b) Có tranh chấp thương mại mặc dù hai bên mua bán thoả thuận nhưng chưa được sự chấp nhận huỷ L/C của các Ngân hàng liên quan.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thanh toán quốc tế là gì?


Thanh toán quốc tế là một trong số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bên bán hàng thuộc lĩnh vực ngoại thương. Các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện nay là:

Chuyển tiền bằng: Điện chuyển tiền (TT: Telegraphic Transfer Remittance) hoặc bằng Thư chuyển tiền (MTR: Mail Transfer Remittance).
Trả tiền lấy chứng từ (C.A.D: Cash Against Document).
Nhờ thu (Collection).
Tín dụng thư (L/C: Letter of Credit)

.Chuyển tiền

Người mua sẽ chuyển tiền của mình thông qua một ngân hàng trong nước cho người bán một phần hoặc toàn bộ giá trị lô hàng (tuỳ theo hợp đồng ngoại thương).
Theo phương thức này người chuyển tiền (Remitter) ra lệnh cho ngân hàng của mình (Remitting bank) chuyển cho ngân hàng mà người bán (bên thụ hưởng) có tài khoản (Beneficiary bank). Sau khi nhận được tiền thì người bán sẽ tiến hành giao hàng.

Trả tiền lấy chứng từ

Người mua sẽ ký với ngân hàng C.A.D một bản ghi nhớ gồm 2 phần:
Mở một tài khoản tín chấp (Trust account) mang tên người mua cho người bán hưởng lợi.
Yêu cầu về bộ chứng từ thanh toán mà người bán phải xuất trình cho ngân hàng C.A.D
Sau đó người mua chuyển tiền vào tài khoản tín chấp. Ngân hàng C.A.D thông báo cho người bán về việc tài khoản tín chấp đã được mở. Sau khi nhận được thông báo từ ngân hàng, người bán tiến hành giao hàng và thành lập bộ chứng từ thanh toán. Nếu bộ chứng từ hợp lệ thì ngân hàng C.A.D sẽ thực hiện thanh toán cho nguời bán. Ngân hàng C.A.D sẽ chuyển bộ chứng từ cho người mua để nhận hàng.

Nhờ thu

Người bán sau khi giao hàng sẽ uỷ quyền cho ngân hàng, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền hàng của người mua ở nước ngoài. Có hai loại nhờ thu:
Nhờ thu chấp nhận chứng từ (D/A: Document Acceptance)
Nhờ thu kèm chứng từ (D/P: Document against Payment)
Quy trình cụ thể như sau:
Sau khi gửi hàng, người bán sẽ gửi bộ chứng từ hàng hoá kèm theo Hối phiếu (Bill of Exchange hay còn gọi là Draft) cho ngân hàng mà mình nhờ thu (Remitting bank). Ngân hàng này có thể dùng đại lý của mình hoặc thông qua một ngân hàng khác mà ngân hàng này có tài khoản ở nước người mua (Collecting bank) để thực hiện việc thu hộ tiền hàng. Collecting bank sẽ gởi bản sao của bộ chứng từ và hối phiếu cho người mua. Nếu là nhờ thu chấp nhận chứng từ thì người mua hàng sẽ ký chấp nhận lên hối phiếu và gửi lại cho ngân hàng nhờ thu. Nếu là nhờ thu kèm chứng từ: Người mua sẽ gửi lại cho ngân hàng lệnh chi.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don