Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh toán quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh toán quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Các phương pháp thanh toán trực tuyến


Ở một số nước, thẻ tín dụng không phổ biến vì thế bạn cần cân nhắc để đưa ra phương thức thanh toán phù hợp cho các khách hàng quốc tế. Nếu khả năng cho phép bạn nên cung cấp càng nhiều phương thức thanh toán càng tốt. Đó chính là cách làm tăng lòng tin và tính thuận tiện cho khách hàng, do đó thúc đẩy doanh số và lợi nhuận. Nhiều phương pháp lựa chọn phù hợp với việc thanh toán nhỏ – chi phí dưới 1 USD bởi vì chi phí lưu chuyển sẽ thấp hơn và không mất phí merchant account bằng thẻ tín dụng.
Thẻ tín dụng vẫn được xem như là phương pháp thanh toán thịnh hành nhất khi giao dịch trực tuyến, tuy nhiên cũng có nhiều phương pháp thanh toán khác. Sản phẩm của bạn và sự lựa chọn của khách hàng sẽ quyết định phương pháp thanh toán nào mà bạn chấp nhận.

Ở một số nước, thẻ tín dụng không phổ biến vì thế bạn cần cân nhắc để đưa ra phương thức thanh toán phù hợp cho các khách hàng quốc tế. Nếu khả năng cho phép bạn nên cung cấp càng nhiều phương thức thanh toán càng tốt. Đó chính là cách làm tăng lòng tin và tính thuận tiện cho khách hàng, do đó thúc đẩy doanh số và lợi nhuận. Nhiều phương pháp lựa chọn phù hợp với việc thanh toán nhỏ – chi phí dưới 1 USD bởi vì chi phí lưu chuyển sẽ thấp hơn và không mất phí merchant account bằng thẻ tín dụng.
Các nhà cung cấp đưa ra các phương pháp thanh toán khác nhau như việc chuyển tiền bằng hoá đơn điện thoại, phương pháp chuyển tiền bằng điện tử (EFT) và séc điện tử (e-check). Họ giải quyết những giao dịch này thông qua máy chủ hoặc chương trình phần mềm payment gateway để mã hoá thông tin. Điều này đảm bảo các phương pháp thanh toán an toàn cho khách hàng khi mua hàng. Với phương pháp EFT, mọi cước phí điện thoại, tiền thanh toán và thẻ ghi nợ đều được kiểm tra trước khi quá trình thanh toán hoàn thành. Do đó hạn chế gian trá và thiếu tiền.

Khách hàng có thể trả tiền bằng hoá đơn điện thoại

Website eCharge.com thực hiện phương pháp thanh toán bằng cách cho phép những người sử dụng Internet chuyển chi phí mua bán thành hoá đơn điện thoại. Với eCharge, các mặt hàng dưới 1 USD có thể thực hiện phương pháp thanh toán này. Chi phí thấp giúp cho phương pháp thanh toán này phù hợp với các dịch vụ như thuê bao và sản phẩm có mã hoá. Để thực hiện phương pháp thanh toán này, người bán cần đăng ký dịch vụ hoá đơn và cung cấp một đường nối giữa eCharge với trang Web kinh doanh. Khách hàng trước hết phải download phần mềm miễn phí xuống máy tính của họ để sử dụng dịch vụ. Sau đó eCharge trực tiếp nối với modem của khách hàng với máy chủ. Máy chủ tự động giữ các thông tin về hoá đơn. eCharge cung cấp cho khách hàng dịch vụ hoá đơn quen thuộc (dưới hình thức hoá đơn nội hạt) và tiến hành quá thực hiện giống như quá trình kết nối Internet.
Không có cước phí hàng tháng nhưng cần có phí cài đặt là 50 USD và eCharge tính phí cho mỗi cuộc giao dịch là 8.25%. Khách hàng phải trả 0.5 USD cho các giao dịch dưới 10 USD,1 USD cho giao dịch từ 10 đến 35 USD và 2 USD cho giao dịch trên 35 USD. Các nhà kinh doanh cần lựa chọn để thu hút khách hàng.
Thanh toán bằng séc điện tử và chuyển tiền bằng điện tử có khác nhau. EFT khấu trừ tiền thanh toán từ tài khoản ngân hàng của một doanh nghiệp hoặc của cá nhân và tiền được kiểm tra trước khi chấp thuận phương pháp EFT. Không cần tài khoản ngân hàng đặc biệt (merchant account) nhưng bạn cần có một nhà cung cấp phương pháp chuyển tiền bằng điện tử e-check phát sinh một loại séc bằng giấy mà theo đó người mua phải đặt cọc vào tài khoản tiền gửi của người bán một khoản tiền và bất cứ một séc tiêu chuẩn nào cũng phải thông qua quá trình này.

Phần II: Phương pháp chuyển tiền bằng điện tử và thanh toán bằng séc điện tử EFT và e-check

Thanh toán bằng séc điện tử và chuyển tiền bằng điện tử có khác nhau. EFT khấu trừ tiền thanh toán từ tài khoản ngân hàng của một doanh nghiệp hoặc của cá nhân và tiền được kiểm tra trước khi chấp thuận phương pháp EFT.

Không cần tài khoản ngân hàng đặc biệt (merchant account) nhưng bạn cần có một nhà cung cấp phương pháp chuyển tiền bằng điện tử e-check phát sinh một loại séc bằng giấy mà theo đó người mua phải đặt cọc vào tài khoản tiền gửi của người bán một khoản tiền và bất cứ một séc tiêu chuẩn nào cũng phải thông qua quá trình này.
Giống như séc bằng giấy, séc điện tử có thể quay trở lại khi trong quỹ không đủ tiền để thanh toán, trong khi đó phương pháp EFT cần kiểm tra trước khi quá trình thanh toán hoàn thành. Thông thường e-check không yêu cầu bất cứ một cái gì khác ngoài tài khoản tiền gửi. Đây chính là phương pháp thanh toán tuyệt vời cho các giao dịch B2B.

Nhìn chung, phương pháp EFT được coi là phương pháp nhanh hơn và đáng tin cậy hơn phương pháp thanh toán bằng e-check. Phương pháp EFT tự động kiểm tra tiền gửi và ngay lập tức chuyển sang tài khoản của bạn. Sử dụng e-check vẫn phát sinh trường hợp rút quá tiền bất kể séc điện tử hay séc bằng giấy. Nếu như tiền trong tài khoản tiền gửi của bạn không còn để trả bằng e-check thì người bán cần phải thông qua các bước bắt buộc để thanh toán lại bằng séc tiêu chuẩn. Khách hàng có thể phải trả tiền rút quá ở ngân hàng và tiền phạt.

Redicheck và RediEFT là hai phương tiện thanh toán thông qua tài khoản tiền gửi.

Để chấp nhận phương pháp thanh toán e-check hay EFT, bạn và khách hàng của bạn không cần sử dụng phần cứng hay phần mềm. Mã số được tích hợp vào hệ thống trang web của bạn và nối khách hàng với máy chủ bảo mật. Một khi làm được điều này thì những hệ thống này sẽ cung cấp những thông tin tài khoản ngân hàng cần thiết và như vậy bắt đầu phương pháp EFT và phương pháp thanh toán e-check.

Người bán và người mua ngay lập tức nhận được tờ kiểm tra đơn đặt hàng và người bán nhận được tên, địa chỉ, điện thoại, địa chỉ email, đơn đặt hàng và số lượng hàng của khách hàng. Khi sử dụng dịch vụ này tức là bạn thực hiện hệ thống EFT qua đường điện thoại hoặc fax. Bạn - người bán -  đơn giản chỉ thu thập thông tin từ khách hàng và sau đó đưa thông tin vào phần mềm EFT của bạn và liệu nó có hoạt động trên máy tính cá nhân của bạn, điểm đến kinh doanh hay tự động thông qua web.

Nhiều nhà cung cấp merchant account (MAP) chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng đã đưa ra phương pháp thanh toán EFT và e-check. Charge.com – một trong những dịch vụ của MAP sẽ cung cấp hệ thống cài đặt e-check miễn phí khi bạn yêu cầu một merchant account.

Qpass.com cung cấp cho khách hàng hoá đơn hàng tháng để trả cho các sản phẩm được mua trên mạng. Qpass.com cung cấp cho khách hàng: nội dung mua hàng như phần mềm, thuê bao, ca nhạc…và liên kết với mạng Qpass. Những khách hàng đã đăng ký có thể đến trang mua hàng và tiến hành giao dịch. Hàng tháng Qpass thanh toán bằng thẻ tín dụng của khách hàng và người bán nhận tiền thanh toán. Hình thức thanh toán này rất phù hợp với việc thanh toán nhỏ và phương thức trả tiền cho mỗi lần sử dụng hàng hoá.
Phương pháp thanh toán hàng tháng

    Qpass.com cung cấp cho khách hàng hoá đơn hàng tháng để trả cho các sản phẩm được mua trên mạng. Qpass.com cung cấp cho khách hàng: nội dung mua hàng như phần mềm, thuê bao, ca nhạc…và liên kết với mạng Qpass. Những khách hàng đã đăng ký có thể đến trang mua hàng và tiến hành giao dịch. Hàng tháng Qpass thanh toán bằng thẻ tín dụng của khách hàng và người bán nhận tiền thanh toán. Hình thức thanh toán này rất phù hợp với việc thanh toán nhỏ và phương thức trả tiền cho mỗi lần sử dụng hàng hoá.
Intercoin.com là một dịch vụ tương tự như vậy. Hiện nay trong hệ thống kiểm tra bằng beta, cho phép những người có tài khoản đăng ký trả chi phí nhỏ cho người bán. Hàng tháng, Intercoin thanh toán vào thẻ tín dụng của người có tài khoản hoặc khấu trừ tài khoản tiền gửi bằng phương pháp điện tử. Một điều bất lợi của phương pháp thanh toán này là ở chỗ người bán không nhận được tiền thanh toán từ Intercoin mãi đến khi khách hàng trả tiền.

Phương pháp mua hàng trả trước

    RocketCash.com là một dịch vụ mua hàng trực tuyến trên mạng cho phép các bậc phụ huynh lập một tài khoản để con cái của họ có thể mua hàng từ các chi nhánh của RocketCash. Các bậc phụ huynh đưa tiền vào tài khoản sử dụng số thẻ tín dụng, bằng séc hoặc bằng lệnh chuyển tiền. Họ cũng có thể gia hạn tài khoản như thời gian mà con họ có thể truy cập vào địa điểm mà chúng có thể đến thăm.
RocketCash.com cho phép khách hàng mua hàng trực tiếp tại website của người bán. Khách hàng có thể truy cập đến các website đó vào các mục chào hàng, tranh ảnh, hàng khuyến mại…Và hầu như không có sự khác nhau nào giữa khách hàng của RocketCash và khách hàng đến thăm trang web của bạn và trả bằng thẻ tín dụng. RocketCash dùng công nghệ độc quyền và người bán hàng chỉ cần đăng ký là thành viên của RocketCash để cung cấp dịch vụ này cho khách hàng.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Bài học kinh nghiệm từ thanh toán qua L/C


Pathenic, một hãng kinh doanh lương thực lớn ở Tây Ban Nha, đã bán một lô sản phẩm lương thực cho Carpen, một công ty của Áo. Về phần mình, Carpen đã mở tại ngân hàng của mình một thư tín dụng không huỷ ngang L/C để chuyển nhượng số tiền hàng trị giá 760.000 USD cho Pathenic qua một ngân hàng Tây Ban Nha.

Theo thoả thuận giữa hai bên, hàng sẽ được giao thành hai chuyến, mỗi chuyến cách nhau 20 ngày muộn nhất. Tiền hàng cũng được thanh toán làm hai lần. Hàng giao theo giá C&F và Quy tắc về Thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của ICC (bản sửa đổi năm 1974) sẽ được áp dụng.
Có hai điều kiện được quy định cho thư tín dụng. Thứ nhất, ngân hàng Áo sẽ tiến hành thanh toán khi nhận được một bộ đầy đủ vận đơn đường biển đã xếp hàng hoàn hảo. Thứ hai, ngân hàng Tây Ban Nha sẽ phải đợi giấy phép do ngân hàng tại Áo của Carpen cấp. Giấy phép này sẽ được cấp sau khi có thông báo của Carpen rằng họ đã nhận được hàng và hàng đã được cơ quan y tế Áo tại cảng chấp nhận.

Sau khi hàng đến Áo, ngân hàng Tây Ban Nha đã gửi bộ chứng từ của chuyến hàng cho Carpen và đã bị Carpen từ chối với lý do thời gian giữa hai chuyến giao hàng đã vượt quá 20 ngày. Ngân hàng Tây Ban Nha đã không chấp nhận điều này và thuyết phục Carpen chấp nhận điều không đúng nguyên tắc trên. Carpen chấp nhận thời gian giao hàng quá 20 ngày nhưng vẫn bảo lưu ý kiến từ chối của mình với lý do đợi sự chấp nhận lô hàng của Bộ Y tế Áo, cơ quan mà công ty Carpen nộp đơn xin kiểm tra hàng. Sau đó không lâu, Carpen thông báo rằng Carpen chính thức từ chối hàng của Pathenic vì Cơ quan Y tế Áo tại cảng đã cấp một giấy chứng nhận rằng hàng sẽ hết hạn sử dụng trong hai tháng nữa.

Pathenic lập luận rằng giấy chứng nhận của Cơ quan y tế đã không bác bỏ hàng. Nhưng Carpen vẫn giữ nguyên quan điểm của mình và lập luận rằng: lô hàng vẫn chưa được nhận bởi Carpen và điều đó được khẳng định sau đó bằng tuyên bố "theo thông lệ, hàng thực phẩm phải đủ độ tin cậy để lưu kho trong vòng 12 tháng". Carpen cho rằng hàng đã không đảm bảo chất lượng và không chấp nhận hàng
Pathenic đã yêu cầu trong đơn kiện gửi cơ quan chức năng tuyên bố rằng Carpen đã từ chối không đúng cách bộ chứng từ và yêu cầu được thanh toán khoản tiền 38.122 USD cộng lãi suất hàng năm 13%.
Trước hết Uỷ ban trọng tài cho rằng lý do duy nhất mà hàng chưa thuộc quyền sở hữu của Carpen, người mở thư tín dụng, là do họ đã từ chối lô hàng đó khi hàng đã đến nơi và giấy chứng nhận y tế cũng đã được cấp.

Quyết định phải đưa ra là trong tình huống này liệu điều kiện "hàng hoá đã được nhận bởi người mở thư tín dụng" được thoả mãn hay chưa.

Tiếp đó, Uỷ ban trọng tài định nghĩa bản chất của thư tín dụng không huỷ ngang và cách mà người ta phải hiểu nó: “Một thư tín dụng không thể huỷ ngang là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng mở thư tín dụng thanh toán hoặc sẽ thanh toán nếu các điều kiện của thư tín dụng được thoả mãn, nếu thư tín dụng đó dùng để thanh toán (Điều 3 Quy tắc và Thực hành thống nhất tín dụng chứng từ)”. Bản chất của thư tín dụng không huỷ ngang là người bán chắc chắn sẽ được thanh toán nếu xuất trình đúng bộ chứng từ.
Một đặc tính cơ bản của tín dụng chứng từ là tính hình thức của nó. Các chứng từ được xuất trình chỉ có thể là đúng hoặc không đúng. Sự mập mờ ở đây không được chấp nhận.

Một tín dụng chứng từ không được hiểu theo bất cứ 1 luật quốc gia nào mà các bên không có thoả thuận mà phải được hiểu theo các thông lệ được áp dụng cho đối tượng này trong thương mại quốc tế. Một đặc tính nữa của thư tín dụng là việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các bên. Chỉ cần các điều kiện trong thư tín dụng được thoả mãn và người hưởng lợi xuất trình đúng bộ chứng từ thì việc thanh toán sẽ được thực hiện.

Carpen lập luận rằng trong trường hợp này, với việc hàng giao không được người mở thư tín dụng chấp nhận, điều kiện "hàng đã được nhận bởi người mở thư tín dụng" đã không được thoả mãn. Nhưng theo trọng tài thì việc thư tín dụng có được thanh toán hay không phụ thuộc vào thiện chí của người mở thư tín dụng (nguời mua). Việc hiểu điều kiện "hàng đã được nhận bởi người mở thư tín dụng" như vậy mâu thuẫn với mục đích của thư tín dụng chứng từ. Theo đó việc thanh toán không được phụ thuộc vào thiện ý hay ý chí chủ quan của Carpen. Ở đây, hàng của Pathenic không có bất cứ sai phạm gì theo thoả thuận giữa hai bên, mà việc hạn sử dụng của hàng hoá là do Carpen suy luận ra. Điều đó có nghĩa là thanh toán tín dụng chứng từ kiểu này hoàn toàn không an toàn cho Pathenic.

Bởi vậy Uỷ ban trọng tài đồng ý rằng điều kiện "hàng được nhận bởi người mở thư tín dụng" cũng cần phải được hiểu ở cả nghĩa là Carpen đã có thể nhận được hàng nếu anh ta muốn (vì trên thực tế hàng đã đến nơi và người mua đã có đủ các điều kiện để nhận hàng). Như thế điều kiện này mới có ý nghĩa có thể hiểu và chấp nhận được trong thương mại quốc tế. Carpen lẽ ra đã phải cân nhắc đến điều đó khi đặt ra điều kiện.
Như vậy rõ ràng Carpen đã sai khi từ chối việc thanh toán hoặc việc cho phép thanh toán cho Ngân hàng Tây Ban Nha. Bởi vậy, Uỷ ban trọng tài quyết định Pathenic được hưởng số tiền là 38.122 USD. Sau khi đưa ra phán quyết về khiếu nại chính, Uỷ ban trọng tài xét tiếp đến mức lãi suất hàng năm. Pathenic yêu cầu mức lãi suất là 13%/năm. Carpen không phản đối yêu cầu này vì việc thanh toán đã không được thực hiện vào ngày đã định và mức lãi suất mà Pathenic yêu cầu trong thời hạn nêu trên cũng không có gì là phi lý trong thương mại quốc tế. Vì thế, Uỷ ban trọng tài đã đồng ý với mức lãi suất nêu trên.

Qua vụ việc giữa Pathenic và Carpen ta có thể thấy việc thanh toán bằng thư tín dụng L/C rất tiện lợi nhưng không phải không có rủi ro. Nếu doanh nghiệp không hiểu rõ và kỹ về bản chất của thư tín dụng cùng những quy định pháp lý của nó thì rất có thể doanh nghiệp sẽ mắc phải những sơ sót dẫn đến việc không nhận được thanh toán từ phía bên đối tác kinh doanh.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don
Theo Bwportal

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Bài giảng cán cân thanh toán quốc tế


Cán cân thanh toán quốc tế là:


  • Là bảng cân đối, so sánh và đối chiếu giữa các khoản tiền thu được từ ở nước ngoài với các khoản tiền phải chi trả cho nước ngoài 
  • Là một biểu tổng hợp phản ánh tất cả các giao dịch dưới hình thức tiền tệ của một nước với các nước khác 
  • Là một bản báo cáo thống kê ghi chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa những người cư trú với người không cư trú (IMF).

Phân loại cán cân thanh toán quốc tế
  • Cán cân thời điểm khác với cán cân thời kỳ
  • Cán cân song phương khác với cán cân đa phương
  • Cán cân chi trả và cán cân thu chi
Vai trò của cán cân thanh toán quốc tế

Ở tầm quản lý kinh tế vĩ mô:
  • Chính sách đối ngoại nói chung và chính sách thương mại quốc tế nói riêng 
  • Kiểm soát sự di chuyển của các luồng vốn: Đầu tư nước ngoài và xuất khẩu vốn
  • Điều hành chính sách tỷ giá
Ở tầm vi mô:
  • Cung cầu ngoại tệ và dự đoán sự biến động tỷ giá
  • Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
  • Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 
Tải bài giảng: cán cân thanh toán quốc tế

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Đề tài: Phương thức thanh toán nhờ thu


Nhờ thu là phương thức thanh toán được sử dụng khá phổ biến trong hoạt động thanh toán TM quốc tế. Nhằm tạo điều kiện cho việc vận dụng một cách thống nhất phương thức thanh toán này trên phạm vi quốc tế, đồng thời có căn cứ pháp lý quốc tế cần thiết, để xử lý các vấn đề tranh chấp khi xảy ra, phòng TM quốc tế ICC đã soạn thảo và công bố văn bản “ Các quy tắc thống nhất về nhờ thu ” ( Uniform Rules for Collections – URC )

Ân phẩm URC đầu tiên được công bố và phát hành rộng rãi và có hiệu lực năm 1979  với tên gọi URC 1979 Revision – ICC Publication No.322

Đến năm 1995 được sửa đổi và chính thức có hiệu lực năm 1996.

Nội dung của bản thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu, bao gồm 7 mục với 26 điều.

Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó người XK, sau khi hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ cho người NK, lập bộ chứng từ thanh toán, kèm theo thư uỷ nhiệm, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người NK hoặc yêu cầu họ ký chấp nhận trả tiền hối phiếu khi đến thời hạn, trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán do mình lập ra.

Các bên tham gia giao dịch thanh toán:

Ngưới có yêu cầu nhờ thu (Principal): là người uỷ thác ngân hàng phục vụ mình thu hộ ở người phải trả,là người XK hay cung ứng dịch vụ,là người thực hiện hành vi giao chứng từ và chỉ thị cho ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu tiền.

Ngân hàng chuyển giao ( Remitting Bank ): là ngân hàng được người có nhu cầu nhờ thu giao chỉ thị nhờ thu và các chứng từ cần thiêt để nhờ thu hộ tiền ở người mua.

Người trả tiền ( Drawee ): là đối tượng mà ngân hàng xuất trình chứng từ tới để đòi tiền hoặc yêu cầu ký chấp nhận trả tiền trên hối phiếu.

Ngân hàng thu hộ (Collecting Bank): là bất kỳ ngân hàng nào ngoại trừ ngân hàng chuyển giao,tham gia thực hiện quá trình nhờ thu.

Ngân hàng xuất trình ( Presenting Bank ): trong trường hợp người phải trả tiền nhờ thu không có quan hệ tài khoản trực tiếp với ngân hàng Thu hộ, thì ngân hàng Thu hộ sẽ chuyển chứng từ nhờ thu tới một ngân hàng khác có quan hệ trực tiếp với người mua, yêu cầu thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu kỳ hạn.

Tải đề tài định dạng PPT: Phương thức thanh toán nhờ thu

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Thủ tục thanh toán bằng l/c nhập khẩu


Thủ tục thanh toán bằng L/C nhập khẩu

1. Yêu cầu mở L/C

a) Nguồn vốn để đảm bảo thanh toán L/C

Khi quy định điều khoản thanh toán bằng L/C trong hợp đồng, khách hàng cần xem xét nguồn vốn để thanh toán cho L/C mà mình sẽ yêu cầu NHCTVN mở:

- L/C phát hành bằng vốn tự có, khách hàng phải ký quỹ 100%
- L/C phát hành bằng vốn tự có, khách hàng không ký quỹ đủ 100% và/hoặc có yêu cầu miễn, giảm mức ký quỹ, đề nghị Quý khách liên hệ với bộ phận Tín dụng thẩm định nghiên cứu xem xét và được Giám đốc hoặc người được Giám đốc uỷ quyền phê duyệt trước khi chuyển sang phòng TTQT thực hiện.
- L/C phát hành bằng vốn vay của NHCTVN: Quý khách liên hệ với bộ phận Tín dụng thẩm định để xem xét.

b) Yêu cầu mở L/C

Khách hàng điền đầy đủ thông tin vào Đơn yêu cầu mở L/C. Vì ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu, do vậy Quý khách nên xem xét kỹ nội dung hợp đồng để đảm bảo khi đưa vào L/C không bị mâu thuẫn.

c) Hồ sơ xin mở L/C của khách hàng bao gồm

- Đơn yêu cầu mở L/C
- Quyết định thành lập doanh nghiệp (đối với các doanh nghiệp giao dịch lần đầu)
- Đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp giao dịch lần đầu)
- Đăng ký mã số xuất nhập khẩu - nếu có (đối với doanh nghiệp giao dịch lần đầu)
- Hợp đồng ngoại thương gốc (trường hợp ký hợp đồng qua FAX thì đơn vị phải ký và đóng dấu trên bản phôtô).
- Hợp đồng nhập khẩu uỷ thác (nếu có)
- Giấy phép nhập khẩu của Bộ Thương Mại (nếu mặt hàng nhập khẩu thuộc Danh mục quản lý quy định tại Quyết định điều hành xuất nhập khẩu hàng năm của Thủ tướng Chính Phủ).
- Cam kết Thanh toán, Hợp đồng Tín dụng (trường hợp vay vốn), công văn phê duyệt cho mở L/C trả chậm của NHCTVN (trường hợp mở L/C trả chậm).
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ (nếu có)
- Bản giải trình mở L/C do phòng Tín dụng của Chi nhánh lập được Giám đốc chi nhánh hoặc người được Giám đốc uỷ quyền phê duyệt (trường hợp ký quỹ dưới 100% trị giá L/C).

Tất cả các chứng từ trên đều phải xuất trình bản gốc và lưu lại Chi nhánh bản phôtô có đóng dấu treo của doanh nghiệp. Riêng các chứng từ sau sẽ phải lưu bản gốc:

- Cam kết thanh toán
- Hợp đồng vay vốn
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ
- Đơn xin mở L/C của khách hàng
- Bản giải trình mở L/C

2. Kiểm tra nội dung L/C

Sau khi NHCTVN phát hành L/C, Quý khách sẽ nhận được một bản sao L/C đó. Quý khách nên xem xét đối chiếu giữa nội dung L/C với đơn yêu cầu của Quý khách để đảm bảo rằng L/C hoàn toàn phù hợp với hợp đồng và với yêu cầu của Quý khách. Nếu có bất kỳ một sự sai lệch nào, Quý khách nên thông báo ngay cho NHCTVN để có điều chỉnh, sửa đổi.

3. Sửa đổi L/C

Nếu Quý khách có nhu cầu sửa đổi L/C, đề nghị Quý khách xuất trình Đơn đề nghị sửa đổi L/C kèm văn bản thoả thuận giữa người mua và người bán (nếu có).
Trường hợp L/C sửa đổi tăng tiền, Quý khách phải bổ sung mức ký quỹ và tài sản thế chấp tương ứng để đảm bảo khả năng thanh toán cho L/C đó.

4. Nhận và kiểm tra chứng từ

Sau khi nhận bộ chứng từ giao hàng từ phía ngân hàng, khách hàng cần kiểm tra đối chiếu giữa nội dung L/C với các chứng từ nhận được. Trường hợp Khách hàng nhận được thông báo sai sót chứng từ của ngân hàng, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báo, Quý khách phải báo ngay quyết định của mình hoặc chấp nhận sai sót và thanh toán L/C hoặc không chấp nhận sai sót ngay trên bản thông báo và gửi trả lại Ngân hàng.

Nếu sau 5 ngày, Quý khách không có ý kiến thì coi như khách hàng từ chối chứng từ, Ngân hàng tiến hành xử lý bộ chứng từ theo chỉ thị của Ngân hàng gửi chứng từ.

5. Yêu cầu phát hành bảo lãnh/ Uỷ quyền nhận hàng theo L/C

NHCTVN thực hiện phát hành bảo lãnh nhận hàng khi chưa có vận đơn gốc hoặc phát hành thư uỷ quyền nhận hàng hoặc ký hậu vận đơn để Quý khách có thể nhận hàng theo L/C.

Điều kiện để NHCT phát hành Thư bảo lãnh – Thư uỷ quyền nhận hàng, ký hậu vận đơn gốc

Quý khách cần ký quỹ 100% trị giá hoá đơn, hoặc uỷ quyền cho NHCT khoanh số tiền tương ứng trên tài khoản tiền gửi hoặc ghi nợ tài khoản tiền vay khi thanh toán và tuỳ từng trường hợp, khách hàng cần xuất trình các giấy tờ sau:


-Phát hành Thư bảo lãnh nhận hàng: khách hàng phải có Thư yêu cầu phát hành bảo lãnh kèm một bản sao vận đơn đường biển hoặc vận đơn hàng không và 01 bản sao hoá đơn do người xuất khẩu gửi trực tiếp.
-Phát hành Thư uỷ quyền nhận hàng: khách hàng phải có Thư yêu cầu phát hành Uỷ quyền nhận hàng kèm 01 bản gốc vận đơn hàng không ghi người nhận hàng là NHCT kèm 01 bản sao hoá đơn.
-Ký hậu vận đơn đường biển: khách hàng phải có Thư yêu cầu ký hậu vận đơn kèm 01 bản gốc vận đơn đường biển và 01 bản sao hoá đơn.

Trong trường hợp ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh cho Khách hàng nhận hàng khi chưa có vận đơn, khách hàng phải xuất trình ngân hàng văn bản chấp nhận thanh toán vô điều kiện kể cả trong trường hợp bộ chứng từ có sai sót.

6. Thanh toán L/C

NHCT sẽ trích tiền từ tài khoản đã được chỉ định của Qúy khách hàng để thanh toán cho Ngân hàng nước ngoài theo quy định của L/C khi nhận được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều khoản của L/C.

7. Huỷ bỏ L/C

Nếu Quý khách có yêu cầu huỷ L/C cần lưu ý, NHCT không chấp nhận huỷ L/C trong trường hợp:

a) Khách hàng đã nhận hàng thông qua bảo lãnh nhận hàng của NHCT.
b) Có tranh chấp thương mại mặc dù hai bên mua bán thoả thuận nhưng chưa được sự chấp nhận huỷ L/C của các Ngân hàng liên quan.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thanh toán quốc tế là gì?


Thanh toán quốc tế là một trong số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bên bán hàng thuộc lĩnh vực ngoại thương. Các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện nay là:

Chuyển tiền bằng: Điện chuyển tiền (TT: Telegraphic Transfer Remittance) hoặc bằng Thư chuyển tiền (MTR: Mail Transfer Remittance).
Trả tiền lấy chứng từ (C.A.D: Cash Against Document).
Nhờ thu (Collection).
Tín dụng thư (L/C: Letter of Credit)

.Chuyển tiền

Người mua sẽ chuyển tiền của mình thông qua một ngân hàng trong nước cho người bán một phần hoặc toàn bộ giá trị lô hàng (tuỳ theo hợp đồng ngoại thương).
Theo phương thức này người chuyển tiền (Remitter) ra lệnh cho ngân hàng của mình (Remitting bank) chuyển cho ngân hàng mà người bán (bên thụ hưởng) có tài khoản (Beneficiary bank). Sau khi nhận được tiền thì người bán sẽ tiến hành giao hàng.

Trả tiền lấy chứng từ

Người mua sẽ ký với ngân hàng C.A.D một bản ghi nhớ gồm 2 phần:
Mở một tài khoản tín chấp (Trust account) mang tên người mua cho người bán hưởng lợi.
Yêu cầu về bộ chứng từ thanh toán mà người bán phải xuất trình cho ngân hàng C.A.D
Sau đó người mua chuyển tiền vào tài khoản tín chấp. Ngân hàng C.A.D thông báo cho người bán về việc tài khoản tín chấp đã được mở. Sau khi nhận được thông báo từ ngân hàng, người bán tiến hành giao hàng và thành lập bộ chứng từ thanh toán. Nếu bộ chứng từ hợp lệ thì ngân hàng C.A.D sẽ thực hiện thanh toán cho nguời bán. Ngân hàng C.A.D sẽ chuyển bộ chứng từ cho người mua để nhận hàng.

Nhờ thu

Người bán sau khi giao hàng sẽ uỷ quyền cho ngân hàng, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền hàng của người mua ở nước ngoài. Có hai loại nhờ thu:
Nhờ thu chấp nhận chứng từ (D/A: Document Acceptance)
Nhờ thu kèm chứng từ (D/P: Document against Payment)
Quy trình cụ thể như sau:
Sau khi gửi hàng, người bán sẽ gửi bộ chứng từ hàng hoá kèm theo Hối phiếu (Bill of Exchange hay còn gọi là Draft) cho ngân hàng mà mình nhờ thu (Remitting bank). Ngân hàng này có thể dùng đại lý của mình hoặc thông qua một ngân hàng khác mà ngân hàng này có tài khoản ở nước người mua (Collecting bank) để thực hiện việc thu hộ tiền hàng. Collecting bank sẽ gởi bản sao của bộ chứng từ và hối phiếu cho người mua. Nếu là nhờ thu chấp nhận chứng từ thì người mua hàng sẽ ký chấp nhận lên hối phiếu và gửi lại cho ngân hàng nhờ thu. Nếu là nhờ thu kèm chứng từ: Người mua sẽ gửi lại cho ngân hàng lệnh chi.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Cán cân thanh toán quốc tế và xác định tỷ giá hố đoái


Hệ thống tiền tệ quốc tế là chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ được thể hiện bằng những thoả ước và những
qui định của một số quốc gia, có hiệu lực trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định.

Mục đích:

• Tạo sự liên kết kinh tế và thúc đẩy quan hệ giao thương về kinh tế - xã hội giữa các nước trong khối;

Ví dụ: ASEAN, EU.

• Thiết lập một liên minh chính trị;

Ví dụ: Hội quốc liên, NATO.

• Củng cố vai trò và vị trí kinh tế - tiền tệ của một quốc gia nào đó trong khu vực.

Ví dụ: Kế hoạch Massall.

Nội dung:

• Đơn vị tiền tệ chung: Là đơn vị thanh toán, đo lường và dự trữ giá trị của một cộng đồng kinh tế.

Ví dụ: GBP, USD, Euro…

• Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ:

  • Qui định tỷ giá giữa đồng tiền chung với các đồng tiền thành viên của khối;
  • Qui định về lưu thông tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt và lưu thông các loại giấy tờ có giá khác ghi bằng đồng tiền chung;
  • Qui định về dự trữ ngoại hối.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Tài liệu: Lập kế hoạch kinh doanh thương mại điện tử


Để có được nhiều sáng kiến trong TMĐT, một kế hoạch chi tiết nêu rõ sức mạnh vốn có của doanh nghiệp và khả năng doanh nghiệp tận dụng những điểm mạnh đó để vượt qua thách thức khi bắt đầu kinh doanh trên mạng. Mỗi doanh nghiệp có những phương thức riêng biệt để triển khai thương mại điện tử. Có doanh nghiệp chủ trương làm những điều thật to lớn và trở thành những biểu tượng của thành công, trong khi đó nhiều doanh nghiệp khác lại thích cổ điển, truyền thống hơn. Dù lựa chọn con đường nào đi chăng nữa, doanh nghiệp cũng đều cần phải có kế hoạch.

Bài này sẽ phân tích một số vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp cần quan tâm để đạt được thành công trên Internet. Ngoài ra chương cũng đề cập tới một số nội dung mở rộng giúp doanh nghiệp có thể tự tin tham gia vào lĩnh vực Thương mại điện tử đầy sôi động.

Mục tiêu
Sau khi học xong bài học, các bạn sẽ:

  • • Hiểu lý do cần thiết phải lập kế hoạch kinh doanh trước khi tham gia vào thương mại điện tử
  • • Xác định phạm vi triển khai, xác định nguồn lực 
  • • Lên kế hoạch và tiến hành triển khai dựán thương mại điện tử
Nội dung:

  • Tại sao phải lập kế hoạch kinh doanh cho dự án thương mại điện tử
  • • Các nội dung cụ thể của kế hoạch kinh doanh điện tử
  • • Kế hoạch triển khai và những điểm cần lưu ý 

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don

Tài liệu: Thanh toán điện tử


Trước yêu cầu của một phương thức kinh doanh thương mại hiện đại (electronic commerce), các hình thức thanh toán đã và đang là mối quan tâm hàng đầu về tính năng sử dụng, tính bảo mật và rủi ro phát sinh đối với cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Trong bài này, chúng ta phân tích và giải đáp các vấn đề liên quan đến đảm bảo an toàn cho thương mại điện tử và thanh toán điện tử.

Mục tiêu
Học xong bài này, học viên sẽ nắm được:

  • Các phương thức thanh toán trực tuyến. 
  • Thanh toán điện tử B2C. 
  • Thanh toán điện tử B2B. 
  • Xuất trình chứng từ điện tử trong thanh toán bằng L/C. 
  • Quản lý rủi ro trong thanh toán điện tử.
Nội dung

  • Khái niệm về thanh toán điện tử. 
  • Khái niệm thanh toán điện tử. 
  • Các loại thẻ sử dụng trong thanh toán. 
  • Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C). 
  • Thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B).
  • Quản lý rủi ro trong thanh toán điện tử
Tải tài liệu: Thanh toán điện tử

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don


Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Con đường tránh nợ trong kinh doanh


Đối với nhiều doanh nhân, cụm từ "kinh doanh" và "nợ nần" luôn song hành với nhau. Trong con mắt các khách hàng cũng như các nhà đầu tư, việc không nợ nần được xem như nhân tố quan trọng nhất tạo dựng uy tín và hình ảnh đẹp của doanh nghiệp.

Trong kinh doanh ngày nay, các khoản nợ sẽ rất dễ dàng chồng chất nhanh chóng đến mức đủ để loại doanh nghiệp ra khỏi cuộc chơi trước khi kịp tìm ra giải pháp khắc phục.

Vấn đề ở chỗ nợ nần dường như trở thành một phần tất yếu trong kinh doanh thường nhật, rất ít doanh nghiệp có thể tránh khỏi những khoản nợ phát sinh. Và theo thời gian, các khoản nợ như một “cái gai khó chịu” cần được loại bỏ khi nó làm gia tăng mức độ rủi ro kinh doanh.

Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể. Chắc chắn tồn tại những căn nguyên dẫn tới nợ nần kinh doanh và một khi biết rõ chúng, các doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng tránh xa. Hãy dành thời gian để xem xét dòng tiền của doanh nghiệp và rất có thể doanh nghiệp sẽ phát hiện ra các con số chi phí xa lạ cần được loại bỏ để cải thiện sức khoẻ tài chính.
Duới đây là 8 căn nguyên dẫn tới nợ nần và khi các doanh nghiệp tránh xa được chúng, kết quả thành công là hiển nhiên.

1. Không gắn chặt với những nhân tố thiết yếu

Điểm khởi đầu thích hợp là nguyên tắc "bao gồm tất cả" và "nắm bắt tất cả". Theo đó, các chủ doanh nghiệp hãy là một người thông minh bằng việc chi tiêu tiền bạc duy nhất cho những gì thực sự cần thiết để vận hành công việc kinh doanh.

Càng ít lựa chọn ít tốn kém bao nhiêu cho việc đạt được các mục tiêu then chốt sẽ càng tốt bấy nhiêu. Và các doanh nghiệp chỉ tăng các chi phí nếu doanh thu cho phép làm như vậy.

Sau khi trải qua giai đoạn trứng nước mới khởi sự và thấy rằng các nguyên tắc này quá chặt chẽ và có phần hạn chế kinh doanh tăng trưởng, doanh nghiệp có thể từ từ nới lỏng sợi dây thừng một chút và tận hưởng không khí tự do với khoản dự trữ tiền mặt lớn hơn.

2. Làm quá nhiều thứ vào quá sớm

Nếu một doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh chưa lâu nhưng đã nỗ lực thực hiện ngay nhiều dự án cùng một lúc, nguồn vốn hạn chế ban đầu sẽ giới hạn đáng kể thời gian và tiền bạc doanh nghiệp có thể bỏ ra cho từng dự án kinh doanh cụ thể.

Những ráng sức đó cần có sự quan tâm kỹ lưỡng và cần được nuôi dưỡng chậm chạp một cách thấu đáo nếu doanh nghiệp bạn muốn chúng được thành công. Khi doanh nghiệp cố thực hiện quá nhiều cam kết cùng lúc, tất cả sẽ kết thúc ở chỗ các dự án không thể thành công, đồng thời các chi phí bỏ ra và con số nợ nần sẽ chồng chất.

3. Không thiết kế cho khả năng mở rộng

Thành công ban đầu là rất quan trọng nhưng không tốt chút nào nếu doanh nghiệp dần bị xói mòn chính bởi sự thiếu khả năng hoạch định quy mô ban đầu lẫn những chuẩn bị kém cỏi.

Nếu thiết kế kinh doanh của doanh nghiệp không thể được mở rộng hơn khi đã trưởng thành, doanh nghiệp có thể bị buộc phải gánh chịu nhiều khoản chi phí phát sinh khi nỗ lực tái thiết kế kinh doanh.

4. Thất bại trong ủy thác

Các chủ doanh nghiệp cần nhớ rằng mình luôn là con người người của những sáng kiến. Đừng dùng quá nhiều thời gian cho những công việc có thể được thực hiện tốt bởi một người khác có mức thù lao thấp hơn.

Khi mà các chủ doanh nghiệp có thể cố gắng quản lý vi mô và gắn chặt con mắt vào từng khía cạnh của doanh nghiệp, bản thân họ không chỉ khiến mình phát điên vì sức ép công việc mà có thể kéo hoạt động kinh doanh vào rắc rối khi không thể quản lý tốt sức khoẻ tài chính chung.

5. Mua với số lượng lớn

Khi chưa là một doanh nghiệp lớn, việc lựa chọn mua một số lượng hàng hoá lớn phục vụ kế hoạch phát triển dài hạn hay dữ trự cho một thời gian dài là không thích hợp chút nào.

Doanh nghiệp bạn phải tính toán kỹ lưỡng các chi phí bỏ ra trong từng giai đoạn và sẽ cần một lượng tiền mặt nhất định luôn có sẵn tại ngân hàng. Hãy lên kế hoạch mua sắm những gì thực sự cần cho một thời gian nhất định và doanh nghiệp bạn sẽ có cơ hội tốt hơn để dự báo chính xác các cơn bão chi phí không ngờ tới.

6. Thanh toán chậm trễ các hóa đơn

Việc thanh toán chậm trễ hóa đơn sẽ dẫn tới nhiều bất lợi, không chỉ làm phát sinh các khoản nợ mà khoản nợ sẽ ngày một lớn hơn theo con số lãi suất chậm trả.

Bất cứ khi nào có thể, hãy thanh toán các hóa đơn đến hạn. Thẻ tín dụng nên được sử dụng tối đa khi mà nhiều ngân hàng cho phép một kỳ hạn nhất định không phải thanh toán lãi suất khi thanh toán tiền.

7. Quẳng các hóa đơn

Sẽ rất khó khăn cho nhiều chủ doanh nghiệp thấy được dòng tiền chi tiêu cũng như biết cách phân tách các chi phí kinh doanh với chi phí cá nhân nếu không lưu giữ đầy đủ mọi hóa đơn thanh toán.

Điều này có thể kết thúc với việc các khoản chi phí bị đội lên, cùng với đó là số thuế được khấu trừ cũng ít đi. Hãy lưu giữ cẩn thận mọi hóa đơn và doanh nghiệp bạn sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong tính thuế cũng như tính toán chi phí.

8. Thất bại trong việc truy đòi các khoản phải thu

Hãy chắc chắn rằng doanh nghiệp của bạn là một "người đàn ông rộng lượng" trong kinh doanh, nhưng cũng rất cần thiết với việc đảm bảo rằng doanh nghiệp được thanh toán các khoản phải thu đúng hạn.

Với khác nhiều công cụ có sẵn ngày nay cho việc thông báo khách hàng thanh toán tiền hàng đến hạn, không có lời bào chữa nào cho việc doanh nghiệp để các khoản phải thu chất chồng mà không truy đòi được.

Doanh nghiệp có thể trang bị nhiều phần mềm kế toán khác nhau giúp tự động gửi hoá đơn và nhắc nhở việc thanh toán các khoản phải thu đến hạn, và thậm chí tạo điều kiện để khách hàng thanh toán qua mạng internet trực tiếp tới tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Đề tài: Hệ thống thanh toán trực tuyến của ngân hàng


KHÁI QUÁT VỀ E-BANKING


Dịch vụ e-banking là dịch vụ ngân hàng điện tử ( ngân hàng qua Internet ), dịch vụ này đc phát triển ở Việt Nam từ cách đây khoảng 2,3 năm, dịch vụ này mang lại rất nhiều tiện lợi cho người sử dụng bạn có thể kiểm tra tài khoản của mình trực tuyến ko những thế bạn còn có thể dùng mobile làm vật tra cứu tài khoản của mình, khi đi mua hàng cũng sẽ rất tiện lợi, bạn có thể tham gia mua bán trực tuyến trên các site chấp nhận hình thức này.

Bạn không phải đến trực tiếp building hay gặp nhân viên nào của nhà băng. Bạn sẽ không còn lo bị phạt tiền vì quá hạn trả hóa đơn, không phải tốn quá nhiều thời gian để viết chi phiếu, dán tem, gửi thư qua bưu điện và chờ đợi ngân hàng gửi bảng kết toán hàng tháng …Đăng ký tài khoản - trên mạng. Gởi tiền - bằng mail hay trực tiếp và tài khoản. Rút tiền - trên mạng, là những lợi ích của việc sử dụng hình thức dịch vụ ngân hàng e-banking.

Bên cạnh đó, những công việc thông thường tốn nhiều thời gian xưa nay như trả hóa đơn tiền điện, khi đốt, tiền nước, tiền nhà, hoặc tiền thẻ tín dụng… thì nay chỉ cần khoảng từ 15 đến 30 phút đồng hồ. Khách hàng sử dụng dịch vụ e-banking có thể nhập vào máy tính các dữ liệu về số tiền, số tài khoản và ngày thanh toán là tiền sẽ được rút thẳng từ tài khoản của mình trả cho công ty nhận thanh toán.


E-Banking toàn cầu - Qua các thống kê


Internet Banking tại Mỹ Theo một nghiên cứu của Stegman chi phí tbình cho việc thực hiện một giao dịch ngân hàng bất kỳ theo kênh truyền thống qua quầy giao dịch tại Mỹ là 1.07 USD. Với việc áp dụng công nghệ, chi phí của một giao dịch tương tự thực hiện qua các kênh ngân hàng tự động động khác nhau lần lượt là: 0.04 USD đối với một giao dịch thực hiện qua trung tâm liên lạc khách hàng (call/contact center); 0.27 USD qua ATM; và 0.01 USD thông qua dịch vụ Internet Banking thực hiện trên một máy tính cá nhân bình
thường. Điều này hiển nhiên chứng tỏ rằng các giao dịch dựa trên công nghệ Internet đã trở nên kinh tế và hiệu quả cho ngành ngân hàng Mỹ trong việc giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ cho các khách hàng hiện tại và tiềm năng của ngân hàng ở phạm vi toàn cầu.

Internet Banking tại Anh và các nước châu Âu khác:


Phần lớn khách hàng tại Anh và châu Âu sử dụng Internet Banking để xem số dư tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, kiểm tra giao dịch hàng ngày, đối chiếu số dư. Sử dụng dịch vụ Internet Banking giúp các ngân hàng giảm chi phí hoạt động và thời gian làm việc của nhân viên tại các trung tâm liên lạc khách hàng (call center), các chi nhánh để trả lời khách hàng và thực hiện các giao dịch lặp đi lặp lại. Khách hàng cũng được hưởng lợi nhờ dịch vụ nhanh, chính xác, đảm bảo sự riêng tư, tiết kiệm thời gian đi lại…


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Tài liệu: Cơ sở hạ tầng của Thương mại điện tử


Thương mại điện tử hiểu một cách đơn giản chính là việc tiến hành các hoạt động thương mại bằng các  thương tiện điện tử có sử dụng đến các công cụ thanh toán điện tử trên môi trường Internet. Chính vì vậy để phát triển thương mại điện tử phải xây dựng và phát triển một cơ sở hạ tầng kỹ thuật hay chính là xây dựng “xương sống” cho thương mại điện tử. Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại điện tử bao gồm xây dựng và phát triển mạng Internet, công cụ thanh toán trực tuyến, đặc biệt quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng bảo mật trong thương mại điện tử. Ngoài ra đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới nhưng lại phát triển nhanh nên bên cạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý nhằm tạo hành lang cho phát triển thương mại điện tử.

Mục tiêu Sau khi học xong bài học, bạn sẽ nắm được: 

  • Cơ sở hạ tầng luật pháp: Bao gồm luật mẫu về thương mại điện tử UNCITRAL – đây là nguồn luật đầu tiên của tổ chức quốc tế và là nguồn luật mẫu cho xây dựng các nguồn luật của các quốc gia trên thế giới; Luật chữ ký điện tử và một số tập quán thương mại. 
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Internet, intranel, extranel, world wide web. 
  • Cơ sở hạ tầng thanh toán: Cơ sở hạ tầng thẻ thanh toán, các giải pháp thanh toán
  • Bảo mật trong thương mại điện tử


Nội dung:

  • Cơ sở hạ tầng pháp lý 
  • Luật về thương mại điện tử
  • Luật về chữ ký điện tử
  • Tập quán về thương mại điện tử
  • Quyền sở hữu trí tuệ
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 
  • Internet 
  • Intranet 
  • Extranet 
  • World wide web 
  • Cơ sở hạ tầng thanh toán 
  • Bảo mật trong thương mại điện tử



Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Thanh toán M&A cổ phiếu hay tiền mặt?


Việc lựa chọn hình thức thanh toán bị ảnh hưởng bởi kết quả phân tích định giá công ty mục tiêu và khả năng tạo ra giá trị kỳ vọng cho cổ đông của công ty hợp nhất.

Lựa chọn phương thức thanh toán rất quan trọng trong các giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A). Trong đó, các hình thức thanh toán phổ biến là bằng tiền mặt, hoán đổi cổ phiếu hoặc kết hợp cả 2. Vậy hình thức nào sẽ mang lại lợi ích cao nhất cho cổ đông?

Hoán đổi cổ phiếu sẽ phát triển


Thanh toán bằng tiền mặt là hình thức chủ yếu trong các giao dịch M&A tại Việt Nam trong những năm qua. Bởi lẽ, bên thâu tóm đa phần là các quỹ đầu tư tài chính mua một phần công ty mục tiêu, hoặc các công ty trong nước và nước ngoài có sẵn hoặc có khả năng huy động nguồn tiền mặt để mua một phần hoặc mua toàn bộ công ty mục tiêu. 

Trong khi đó, bên bán muốn tìm đối tác chiến lược hoặc thoái vốn thông qua bán một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp dưới hình thức thanh toán bằng tiền mặt. Hình thức trên giúp giao dịch M&A có thể nhanh chóng được hoàn tất, đặc biệt là giao dịch có cấu trúc đơn giản.

Tại các quốc gia phát triển, hoán đổi cổ phiếu, hoặc kết hợp giữa tiền mặt và cổ phiếu là phương thức giao dịch được ưa chuộng. Hình thức hoán đổi cổ phiếu được áp dụng trong các giao dịch M&A mà các bên muốn được chia sẻ lợi ích và rủi ro của việc hợp nhất, hoặc trong trường hợp 2 doanh nghiệp hợp nhất có quy mô tương đương.

Tại Việt Nam, giao dịch M&A thông qua hoán đổi cổ phiếu chỉ mới xuất hiện trong hơn 1 năm trở lại đây. Chẳng hạn, Công ty Xi măng Hà Tiên 1 phát hành một số cổ phiếu để đổi 100% lượng cổ phiếu đang lưu hành của Công ty Xi măng Hà Tiên 2 theo tỉ lệ 1:1. 

Hay Công ty Cổ phần Mirae Fiber (KMF) sáp nhập vào Công ty Cổ phần Mirae (KMR) theo hình thức KMR mua lại 100% vốn của KMF thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu với tỉ lệ chuyển đổi 1:1,35. 

Tuy nhiên, có thể thấy, các công ty trong 2 giao dịch trên đều là “người cùng một nhà” (có cùng cổ đông chi phối), nên việc chuyển đổi cổ phiếu cũng dễ dàng. Nếu không có yếu tố thuận lợi này, giao dịch M&A tại Việt Nam vẫn chủ yếu bằng tiền mặt.

Về mặt kỹ thuật, việc phát hành thêm cổ phiếu để chuyển đổi cũng như thực hiện các quy định pháp lý tại Việt Nam không phải là khó. Tuy nhiên, trên thực tế, việc hoán đổi cổ phiếu lại không dễ dàng vì nhiều lý do.

Thứ nhất là việc xác định tỉ lệ hoán đổi cổ phiếu dựa trên giá trị doanh nghiệp của mỗi bên trong giao dịch. Không dễ để chấp nhận giá của một doanh nghiệp khác và không đơn giản để thuyết phục đối tác về giá của doanh nghiệp mình đưa ra. 

Thứ 2 là sự khác biệt về chiến lược, quan điểm kinh doanh và văn hóa khi cả 2 bên cùng trở thành cổ đông của công ty hợp nhất. Khó khăn thứ 3 xuất phát từ hạn chế trong văn hóa hợp tác cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro khi hoán đổi cổ phiếu.

Chính khả năng thấp trong việc tháo gỡ các khó khăn khi hoán đổi cổ phiếu đã làm hạn chế số lượng giao dịch M&A thành công tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi nguồn vốn không cho phép thực hiện các giao dịch M&A bằng tiền mặt và đứng trước sức ép cạnh tranh trong và ngoài nước cùng với quá trình hợp nhất và phá sản trong một số ngành, hình thức hoán đổi cổ phiếu sẽ là lựa chọn khả thi tại Việt Nam trong thời gian tới.

Chia sẻ rủi ro và lợi ích trong M&A



Tiến hành M&A là một quyết định rủi ro, đặc biệt đối với bên thâu tóm. Khi thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt, trong trường hợp mua toàn bộ công ty, bên bị thâu tóm không còn là cổ đông của công ty hợp nhất; còn bên thâu tóm sẽ hưởng toàn bộ lợi ích cũng như rủi ro trong quá trình hợp nhất.


Trong khi đó, với hình thức hoán đổi cổ phiếu, cổ đông của bên bị thâu tóm trở thành cổ đông của công ty hợp nhất. Như vậy, mọi lợi ích cũng như rủi ro sẽ được chia sẻ giữa cổ đông của 2 công ty.


Việc lựa chọn hình thức thanh toán bị ảnh hưởng bởi kết quả phân tích về việc định giá công ty mục tiêu và khả năng tạo ra giá trị kỳ vọng cho cổ đông của công ty hợp nhất.


Trong trường hợp công ty mục tiêu được xem là đang được định giá cao hơn so với mức giá hợp lý hoặc bên thâu tóm nghi ngờ về khả năng thành công của công ty hợp nhất thì bên thâu tóm có xu hướng muốn thực hiện chuyển đổi cổ phiếu để chia sẻ rủi ro với bên bị thâu tóm. 

Trong trường hợp ngược lại, bên thâu tóm sẽ muốn thanh toán cho bên bị thâu tóm bằng tiền mặt. Hơn nữa, việc có sẵn nguồn tiền để thực hiện M&A là rất khó, đặc biệt trong bối cảnh huy động vốn không dễ.


Ngoài chia sẻ rủi ro, bảo đảm cấu trúc tài chính tối ưu cũng là lý do doanh nghiệp cân nhắc lựa chọn hình thức thanh toán. Nếu chọn thanh toán bằng tiền mặt, liệu bên thâu tóm có thể huy động được một lượng vốn lớn cho thương vụ M&A? Sau khi huy động được nguồn vốn này, rủi ro mới cũng phát sinh. Bởi lẽ, với tỉ lệ vốn vay trên vốn sở hữu lớn hơn, liệu công ty hợp nhất còn có thể huy động vốn cho các dự án tiếp theo?


Đối với các công ty không có nguồn tiền mặt, việc vay vốn để tài trợ cho giao dịch M&A không những làm giảm khả năng huy động vốn mà còn gia tăng nguy cơ phá sản hoặc phải cấu trúc lại công ty.

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Chiến lược Marketing điện tử - OSB


Marketing?


“đã là một công ty kinh doanh thì phải chú trọng tới khách hàng, hướng tới nhu cầu của khách hàng trước khi đề cập tới sản phẩm của mình, cho dù trong thời đại công nghệ thông tin hay các thời đại khác.”

Jeff Bezos - Đương kim chủ tịch của một trong những công ty kinh doanh qua mạng hàng đầu thế giới Amazon.com với doanh số trung bình 4 tỷ USD/năm.

Marketing điện tử là gì?


Quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân - dựa trên các phương tiện điện tử và Internet. (Phillip Kotler).

Marketing điện tử bao gồm tất cả các hoạt động để thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng thông qua internet và các phương tiện điện tử (Nguồn: Joel Reedy, Shauna Schullo, Kenneth Zimmerman, 2000)

Về cơ bản, marketing điện tử được hiểu là các hoạt động marketing được tiến hành qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Trong đó, phương tiện điện tử có thể là máy tính, mobile, PDA… còn mạng viễn thông có thể là internet, mạng thông tin di động…

Tải tài liệu: Chiến lược Marketing điện tử - OSB

Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Tiểu luận: Giải pháp thanh toán mới cho cinema qua mobile


Với dân số khoảng 86 triệu người, cả nước chỉ có khoảng 10 hệ thống rạp đạt yêu cầu về tiêu chuẩn rạp hiếu phim quốc tế, đa phần là tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM. Các doanh nghiệp trên thị rường hiện đang tự điều tiết với số lượng khoảng trên 100 phim mỗi năm.

Thị trường hiện nay đang được bốn đại gia lớn chia nhau: Galaxy, Megastar, BHD và Lotte.

2005 - 2010, tổng doanh thu vé từ 1,2 - 25 triệu USD. Doanh thu Megastar trên toàn quốc trong năm 2008 đạt 7 triệu Đô la Mỹ.

Doanh thu mùa phim Tết 2011 đạt tăng trưởng gần gấp đôi, trên 40 tỷ đồng của năm 2010 lên gần 70 tỷ đồng trong năm nay.

Giá vé trung bình từ 50.000 - 80.000. Giá vé xem phim cao nhất đang thuộc về các cụm rạp của MegaStar với 80.000 đồng/vé, còn các cụm rạp khác của Galaxy, BHD, Lotte Cinema “đỉnh nhất” chỉ 70.000 đồng..


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử


Trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, đầu tư và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là một trong những biện pháp gia tăng vị thế cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại Việt Nam trên thị trường. 

Với mong muốn đem lại sự hài lòng cho khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng, đề tài đã đi vào nghiên cứu chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng về nó và đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

Căn cứ vào những đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử và hai mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVPERF và GRONROOS được ứng dụng trong và ngoài nước, một mô hình đo lường chất lượng dịch vụ với các biến nghiên cứu chính được thiết lập cùng với các giả thuyết nghiên cứu nhằm đánh giá các thành phần chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử với khách hàng cá nhân thông qua sự hài lòng của khách hàng tại VietinBank Đà Nẵng.

Mô hình SERVPERF được xây dựng dựa trên mô hình SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1988). Đây là một dụng cụ đo lường chất lượng dịch vụ tin cậy và chính xác (Parasuraman và cộng sự, 1988; 1991; 1993) và mô hình đã được sử dụng rộng rãi (Buttlr 1996; Robinson, 1999) nhưng nó loại bỏ phần đánh giá về sự mong đợi và chỉ giữ lại phần đánh giá về sự cảm nhận của khách hàng.

- Trong khi sự cảm nhận có thể định nghĩa và đo lường một cách dễ dàng dựa trên niềm tin của khách hàng về những dịch vụ họ đã sử dụng, sự mong đợi có thể được hiểu theo nhiều cách và vì vậy, có thể được giải thích khác nhau đối với những tác giả và những nhà nghiên cứu khác nhau (Dasholkar và cộng sự, 2000; Babakus và Boller, 1992; Teas, 1993).

- Người được hỏi tỏ ra bối rối khi trả lời câu hỏi hai lần trên phiên bản kỳ vọng và cảm nhân của SERVQUAL (Bouman và Van der Wiele, 1992).Do đó, đo lường sự mong đợi của khách hàng là rất khó khăn.

- Các bằng chứng thực nghiệm của Cronin và Taylor (1992) và Quester và Romaniuk (1997) khi thực hiện các nghiên cứu so sánh giữa mô hình SERVQUAL và SERVPERF đều cho thấy SERVPERF tốt hơn SERVQUAL.Ngoài mô hình SERVQUAL và SERVPERF, mô hình GRONROOS là mô hình đo lường chất lượng dịch vụ cũng được xem là khá phổ biến (Arona & Stoner, 1996).

- Mô hình này mặc dù chưa được kiểm định rộng rãi như mô hình SERVQUAL, nhưng nó đã có được một số nghiên cứu thực tế như đo lường chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc (Baker & Lamb, 1993), kế toán (Higgins & Ferguson, 1991), dịch vụ giao bánh pizza (Allaway, 1993) (trích từ Lassar & ctg, 2000), dịch vụ ngân hàng (Lassar & ctg, 2000), dịch vụ thư viện (Trần Xuân Thu Hương, 2007), v.v…

Ngoài ra mô hình này đã từng được sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam (Nguyễn Thị Phương Trâm, Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: So sánh giữa mô hình SERQUAL và mô hình GRONROOS, 2008).

- Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử khá cụ thể khi đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên: những gì được phục vụ, ví dụ như hệ thống máy vi tính hóa các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và chúng được phục vụ như thế nào, ví dụ: thái độ, hành vi của nhân viên đối với khách hàng, …


Theo Thanhtoanhoadon.vn - Thanh toan hoa don truc tuyen

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Không nên quay lưng với Thanh toán trực tuyến


Vừa qua, đã xảy ra một vụ việc làm "rúng động" ngành thanh toán trực tuyến, khách hàng bị cướp SIM điện thoại và bị chiếm đoạt tiền trong tài khoản trực tuyến.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Hướng dẫn từ A đến Z về Thẻ Tín Dụng


Người Mỹ sẽ dùng thẻ để mua sắm hơn $1.7 ngàn tỷ trong năm 2007 chỉ với bốn thẻ tín dụng chính, mặc dù số nợ thẻ tín dụng toàn quốc đã hơn $800 tỷ rồi. Một gia đình người Mỹ trung bình hiện đang nợ hơn $9,000 tiền thẻ tín dụng.

Tiểu luận Các phương thức thanh toán quốc tế


Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này đối với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.